- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Ngọc Thuỷ đối với bị đơn anh Trần Văn Hiếu về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Baûn aùn soá: 08 /2024/HNGĐ-ST Ngaøy: 31/01/2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương
Ông Trần Văn Điệp
Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Nhơn Trạch
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến - Kiểm sát viên
Ngày 31/01/2024 tại Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 483/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1171/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/12/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2024/QĐST – HNGĐ ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Ngọc Thuỷ, sinh năm 1988;
- Bị đơn: Anh Trần Văn Hiếu, sinh năm 1982;
Cùng cư trú: Tổ 15, ấp 3, xã Phú Thạnh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt)
Nội dung vụ án
* Theo đơn khởi kiện ngày 15/11/2023 và tại hồ sơ vụ án chị Bùi Ngọc Thuỷ trình bày:
Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung, thay đổi, không rút một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Hiếu tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Thạnh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 19/04/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận cho đến mấy năm trở lại đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi vã lẫn nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên không còn có thể chia sẻ, thông cảm được với nhau. Chúng tôi đã cố gắng hòa giải mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên vợ chồng đã sống ly thân khoảng bốn tháng nay. Nay hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn đã quá trầm trọng không thể giải quyết được, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn Hiếu.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Trần Thị Tuyết Nhi, sinh ngày 09/11/2006 và Trần Khải Duy, sinh ngày 17/9/2012. Chị có nguyện vọng giao hai con cho anh Trần Văn Hiếu nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên chị đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và xin vắng mặt tại phiên xét xử của toà án.
* Tại biên bản hoà giải ngày 08/12/2023 anh Trần Văn Hiếu trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian và hoàn cảnh kết hôn như chị Thuỷ trình bày là đúng. Anh và chị Thuỷ yêu thương, cưới nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Thạnh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 19/04/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh lỡ lời nói về việc ly hôn nên chị Thuỷ giận và phát sinh mâu thuẫn. Thi thoảng anh có nhậu xỉn nên không điều khiển được lời nói chuẩn. Vợ chồng có cãi nhau nhưng anh không đánh đập vợ. Nay anh vẫn còn tình cảm với chị Thuỷ nên không muốn ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Trần Thị Tuyết Nhi, sinh ngày 09/11/2006 và Trần Khải Duy, sinh ngày 17/9/2012. Nếu Toà án giải quyết cho ly hôn, anh đồng ý nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị Thuỷ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về trình tự, thủ tục Tòa án thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự và quan hệ tranh chấp, thời hạn đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Chị Thuỷ có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hiếu vắng mặt hai lần trở lên nên căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh Hiếu và chị Thuỷ theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thuỷ xử cho chị Thuỷ được ly hôn với anh Hiếu. Về con chung: Giao cả hai con chung là Trần Thị Tuyết Nhi, sinh ngày 09/11/2006 và Trần Khải Duy, sinh ngày 17/9/2012 cho anh Hiếu nuôi dưỡng, tạm thời chị Thuỷ không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.
Về án phí: Chị Thuỷ phải chịu án phí dân sự trong vụ án Hôn nhân và gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Những kiến nghị khắc phục vi phạm là không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Chị Bùi Ngọc Thuỷ có yêu cầu vắng mặt, anh Trần Văn Hiếu đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo quy định.
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự:
Chị Bùi Ngọc Thuỷ yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Trần Văn Hiếu. Anh Hiếu hiện đang sinh sống và có hộ khẩu tại xã Phú Thạnh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định nguyên đơn là chị Bùi Ngọc Thuỷ, bị đơn là anh Trần Văn Hiếu.
. Về nội dung:
- Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Thuỷ và anh Hiếu là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Chị Thuỷ xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Hiếu và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Hiếu. Chị cho rằng trong cuộc sống vợ chồng anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải vã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nhiều lần hoà giải đoàn tụ nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân. Về ý kiến của anh Hiếu, anh cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc đến gần đây thì mới phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh lỡ lời nói về việc ly hôn nên chị Thuỷ giận và bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống. Thi thoảng anh có nhậu xỉn nên không điều khiển được lời nói chuẩn. Vợ chồng có cãi nhau nhưng anh không đánh đập vợ. Nay anh vẫn còn tình cảm với chị Thuỷ nên không muốn ly hôn. Từ lời khai của hai anh chị cho thấy mâu thuẫn giữa hai bên đã có. Anh Hiếu cũng thừa nhận việc ăn nhậu, xay xỉn. Anh cho rằng anh lỡ lời tuy nhiên chị Thuỷ không đồng ý và khai rằng lần nào nhậu về anh Hiếu cũng nghi ngờ rồi chửi bới xúc phạm chị. Vợ chồng anh chị cũng đã ly thân mặc dù có bàn bạc đoàn tụ nhưng không thành. Như vậy trên thực tế anh chị đã không còn chăm sóc thông cảm cho nhau cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên họp công khai chứng cứ và Hòa giải, Tòa án đã mời các đương sự đến để hòa giải đoàn tụ tuy nhiên phía anh Hiếu không có mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiếu, bị đơn được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều không đến Toà điều đó cho thấy các đương sự không còn có mong muốn hòa giải đoàn tụ với nhau. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị Thuỷ là có căn cứ chấp nhận nên cần xét xử cho chị Thuỷ được ly hôn anh Hiếu là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Trần Thị Tuyết Nhi, sinh ngày 09/11/2006 và Trần Khải Duy, sinh ngày 17/9/2012. Cháu Duy và cháu Nhi đã trên 7 tuổi và đều có nguyện vọng được ở với cha khi cha mẹ ly hôn. Bên cạnh đó anh Hiếu cũng có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng các con chung nếu Toà án giải quyết cho vợ chồng anh ly hôn. Chị Thuỷ cũng đồng ý giao con chung cho anh Hiếu nuôi dưỡng. Anh Hiếu không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chị Thuỷ cũng đồng ý nên
Chị Thuỷ được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết.
. Về án phí: Chị Thuỷ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
. Xét quan điểm của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 266, 267 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9, 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Ngọc Thuỷ đối với bị đơn anh Trần Văn Hiếu về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
Xử: cho chị Bùi Ngọc Thuỷ được ly hôn với anh Trần Văn Hiếu.
Giao con chung là cháu Trần Thị Tuyết Nhi, sinh ngày 09/11/2006 và Trần Khải Duy, sinh ngày 17/9/2012 cho anh Hiếu trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời chị Thuỷ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Thuỷ được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Các đương sự khai tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.
2. Về án phí: Chị Bùi Ngọc Thuỷ phải chịu 300.000đ tiền án phí HNGĐ sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Thuỷ đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0008377 ngày 20/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch. (Chị Thuỷ đã nộp xong).
3. Chị Bùi Ngọc Thuỷ và anh Trần Văn Hiếu được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAT, THA,VKS; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | Lê Thị Oanh |