- Tranh chấp gì? "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trịnh Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự
| ` Tand huyÖn th êng Xu©n | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| tØnh thanh ho¸ B¶n ¸n sè: 08/2021/HSST Ngµy 10/3/2021 |
Nh©n danh
N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn th êng Xu©n, tØnh thanh ho¸
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà: Lê Thị Tâm
Hội thẩm nhân dân: Ông: Lương Xuân Khảnh và Bà Bùi Thị Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân tham gia phiên toà:
Ông: Vũ Văn Hùng
- Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 3 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2021/HSST ngày 27/01/2021; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Đình T, sinh ngày: 18/5/1992
Nơi cư trú: Thôn CL, xã XT, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông: Trịnh Đình T (đã chết); Con bà: Bùi Thị T; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Ngày 23/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2019.
Tiền sự: Ngày 20/01/2020 bị Công an huyện Thọ Xuân xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 95/2012/HSPT ngày 20/6/2012; Ngày 31/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 85 ngày ngày 31/12/2020. (có mặt tại phiên tòa).
+ Bị hại: Ông Phạm Văn C, sinh năm: 1967
Trú tại: Thôn LT, xã LS, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá (có mặt).
+ Người làm chứng:
1. Chị Phạm Thị N, sinh năm: 1986 (vắng mặt);
2. Bà Lê Thị M, sinh năm: 1964 (vắng mặt);
3. Chị Trần Thị T, sinh năm : 1992 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/9/2020, Trịnh Đình T, sinh năm 1992, xã Xuân Thiên, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa, đi xe khách Hiền Lan từ bến xe Yên Nghĩa - thành phố Hà Nội về thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Do không có tiền để tiêu sài cá nhân Thêm nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 13 giờ 30 cùng ngày khi về đến thị trấn Thường Xuân, T thuê xe lai chở đến thôn T1, xã LS, huyện Thường Xuân rồi đi bộ dọc theo đường quốc lộ 47 để tìm tài sản. Đến khoảng 19 giờ Trịnh Đình T đang đi bộ ở khu vực thôn LT, xã LS (cách cổng trường Trường trung học cơ sở khoảng 50m) thì phát hiện thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu trắng đỏ, biển kiểm soát 36B5-380.43 của anh Phạm Văn C, sinh năm 1967, trú tại thôn LT, xã LS, huyện Thường Xuân đang dựng tại lề đường bên trái phía trước nhà, chìa khóa đang cắm ở ổ điện và không có người trông coi. Trịnh Đình T đi bộ lại chỗ xe mô tô, mở khóa điện nổ máy điều khiển xe chạy về hướng thị trấn Thường Xuân, ngay lúc này anh Phạm Văn C nghe có tiếng xe nổ máy nên từ trong nhà chạy ra truy hô và đuổi theo nhưng không kịp, đồng thời báo cáo Công an xã Lương Sơn và Cơ quan CSĐT Công an huyện Thường Xuân giải quyết. Trịnh Đình T sau khi lấy được xe mô tô biển kiểm soát 36B5-380.43 đã điều khiển xe đi ra thành phố Hà Nội chào bán chiếc xe nhưng không ai mua. Đến khoảng 14 giờ ngày 14/9/2020 Trịnh Đình T điều khiển xe quay về Thanh Hóa, khi đi qua khu vực huyện LT, tỉnh Hòa Bình đã chào bán chiếc xe cho một người đàn ông không biết tên và địa chỉ được số tiền 3.900.000đ (ba triệu chín trăm nghìn đồng). Ngày 18/9/2020, Trịnh Đình T nhận thấy hành vi của mình đã vi phạm pháp luật nên đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Thọ Xuân đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 42/KL - ĐGTS ngày 05/11/2020 của hội đồng định giá trong tố tụng huyện Thường Xuân kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 36B5.380.43 có trị giá: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Về vật chứng: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B5-380.43, xe đã qua sử dụng, xác định là xe của anh Phạm Văn C, sinh năm 1967 ở thôn LT, xã Lương Sơn, huyện Thường Xuân, được chị Phạm Thị T, sinh năm 1990, ở Phường LS, thành phố Thanh Hóa cho anh C từ tháng 11/2019, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng chưa thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn C có đơn yêu cầu bị cáo Trịnh Đình T phải bồi thường số tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSTX ngày 25/01/2021 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Thường Xuân truy tố Trịnh Đình T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1, 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trịnh Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Trịnh Đình T từ 27 (hai mươi bảy) đến 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp 24 (hai mươi bốn) tháng tù của bản án số 85/HSST ngày 31/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân. Buộc Trịnh Đình T phải chấp hành hình phạt của cả 2 bản án 51 (năm mươi mốt) tháng đến 54 (năm mươi tư) tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Ðiều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo T phải bồi thường cho ông Phạm Văn C số tiền 20.000.000đồng. Về án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thường Xuân, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Đình T, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tiến hành đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 ngày 13/9/2020, Trịnh Đình T đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu trắng đỏ, biển kiểm soát 36B5-380.43 trị giá 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) của anh Phạm Văn C ở thôn LT, xã LS, huyện Thường Xuân.
. Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Trịnh Đình T lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong quản lý và bảo vệ tài sản, đã lén lút trộm cắp tài sản 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu trắng đỏ, biển kiểm soát 36B5-380.43. Theo kết luận định giá tài sản số: 42/KL-ĐGTS ngày 05/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Thường Xuân kết luận chiếc xe mô tô có giá trị 20.000.000đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành đầy đủ tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân truy tố Trịnh Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trịnh Đình T là đối tượng có nhân thân xấu. Năm 2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 95/2012/HSPT ngày 20/6/2012; Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 85/2020/HSST ngày 31/12/2020. Tiền sự: Ngày 20/01/2020 bị Công an huyện Thọ Xuân xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo Trịnh Đình T có 01 tiền án, ngày 23/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2019. Sau khi chấp hành xong chưa được xóa án tích, không chịu tu dưỡng rèn luyện lại tiếp tục phạm tội nên Trịnh Đình T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
. Với tính chất vụ án; hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo trên cơ sở xem xét đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Trịnh Đình T một mức án nhất định, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Áp dụng Điều 56 để tổng hợp hình phạt theo quy định của pháp luật.Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày 18/9/2020.
. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 584; Điều 585 và Điều 589 BLDS buộc Trịnh Đình T phải bồi thường cho ông Phạm Văn C số tiền 20.000.000đồng. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Trịnh Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Trịnh Đình T 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Tổng hợp 24 (hai mươi bốn) tháng tù của bản án số 85/2020/HSST ngày 31/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Buộc Trịnh Đình T phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 bản án là 49 (bốn mươi chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án được tính từ ngày 18/9/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Ðiều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 585 và Điều 589; Điều 357 Bộ luật dân sự. Buộc Trịnh Đình T phải bồi thường cho ông Phạm Văn C số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khoản 1 Điều 21; điểm a, khoản 1 Điều 23; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” buộc Trịnh Đình Thêm phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (một triệu đồng) án phí dân sự.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/3/2021).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM: HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND huyện TX; - Công an huyện TX; - Chi cục THADSh TX; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HSVA | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lê Thị Tâm |