vanban.org

Bản án 08

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo Hoàng Đỗ Th phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: Điểm b, khoản 1, Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo Hoàng Đỗ Th 24 tháng tù, thời … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hoàng Đỗ Thanh - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Hoàng Đỗ Th phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƯƠNG SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số bản án: 08/2023/HS - ST
Ngày: 15.02.2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khiêm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Quang Hậu, Ông Hoàng Thế Quỳnh

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Vân – Thẩm tra viên chính

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hương – Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST – HS ngày 11 tháng 01 năm 2023. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST – HS ngày 31 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Đỗ Th; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh ngày: 05/05/2001

HKTT: xóm V, xã T, huyện L S, tỉnh Hòa Bình

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 08/12; Con ông: Hoàng Đỗ L, SN: 1969 và con bà: Nguyễn Thị V, SN: 1972; Vợ con: Chưa

Tiền sự: Không

Tiền án: 01 tiền án

Tại Bản án số 30/2021/HSST ngày 13/08/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo Hoàng Đỗ Th 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/09/2022. Đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Nhân thân:

Tại Bản án số 148/2018/HSST ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội xử phạt bị cáo Hoàng Đỗ Th 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/09/2022. Đã nộp 3.000.000đ (Ba triệu đồng) sung quỹ Nhà nước và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Ngày 29/01/2019 Hoàng Đỗ Th bị Công an huyện Chương Mỹ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong ngày 15/03/2019.

Tại Bản án số 15/2019/HSST ngày 26/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội xử phạt bị cáo Hoàng Đỗ Thanh 21 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lương Sơn. Được trích xuất, có mặt tại phiên toà

Người bị hại: Chị Bùi Thị Ph, sinh năm 2000

HKTT: Xóm Kh, xã C, huyện L S, tỉnh Hoà Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Đỗ Văn S, sinh năm 1985

Trú tại: Tổ 2, khu T, thị trấn X, huyện C M, TP Hà Nội.Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bùi Văn N, sinh năm 1976 Trú tại: Xóm Kh, xã C, huyện L S, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng rạng sáng ngày 09/10/2022, Hoàng Đỗ Th đi bộ từ nhà ông Nguyễn Hữu T (là ông ngoại của Th, đã chết) ở Tổ 2, khu Tân B, thị trấn X, C M, Hà Nội đi dọc theo hướng Xuân Mai- Hòa Bình với mục đích để xem nhà nào có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi Th đi qua khu vực dãy nhà trọ do chị Lê Thị T, SN: 1991 quản lý thuộc Tiểu khu L, thị trấn L S, L S, Hòa Bình, Th quan sát thấy trước cửa phòng trọ có để 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 28G1-013.10 thuộc quyền sở hữu của chị Bùi Thị Ph là người thuê trọ. Quan sát xung quanh không có ai, cửa khu trọ không khóa, Th đã lén lút dắt chiếc xe mô tô của chị Ph ra khu vực sân bóng gần phòng trọ. Th đấu điện, nổ máy xe rồi điều khiển xe mô tô trên về nhà ông Nguyễn Hữu T. Tại đây, Th tháo biển số xe, tháo phần nhựa ốp đầu, phần mặt nạ, phẩn vỏ đuôi và phần yếm xe của xe wave BKS: 28G1-013.10, rồi Th tháo các phụ tùng tương tự từ một chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave khác không biển số màu đỏ của Th có sẵn ở nhà ông T và lắp vào xe của chị Ph để tránh bị phát hiện. Sau đó, Th tháo ra vứt bỏ phần yếm xe mô tô BKS: 28G1-013.10, biển số xe Th đập làm ba mảnh vứt ở ba nơi khác nhau, còn phần nhựa ốp đầu, mặt nạ và vỏ đuôi xe thì Th lắp lại vào xe Wave màu đỏ biển số màu đỏ của Th có sẵn ở nhà ông T. Đến ngày 18/10/2022, Th đi đến quán nước của anh Đỗ Văn S, SN: 1985, HKTT: Tổ 2, khu T, thị trấn X , C M, Hà Nội để hỏi vay 1.500.000 đồng và xe Th trộm cắp được của chị Bùi Thị Ph để làm tin, số tiền Th vay của anh Đỗ Văn S, Th đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 20/10/2022, nhận thức được hành vi của mình là phạm tội nên Hoàng Đỗ Th đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lương Sơn đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL- HĐĐGTS ngày 28/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lương Sơn kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: xanh-đen-bạc, số máy C12E-2899194; số khung:1202BY099163, BKS: 28G1-013.10, dung tích 97, xe máy đăng ký lần đầu ngày 08/07/2011 xe đã qua sử dụng có giá trị 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

*Về vật chứng;

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc, số máy C12E-2899194; số khung: 1202BY099163 đã qua sử dụng.

- 01 (một) phần nhựa ốp đầu của xe BKS: 28G1-013.10

- 01 (một) mặt nạ của xe BKS: 28G1-013.10

- 01 (một) vỏ đuôi của xe BKS: 28G1-013.10

Cáo trạng số: 05/CT – VKS - LS ngày 11 tháng 01 năm 2023 truy tố Hoàng Đỗ Th về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn luận tội và đề nghị HĐXX. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

*Về vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc, số máy C12E-2899194; số khung: 1202BY099163 đã qua sử dụng.

- 01 (một) phần nhựa ốp đầu của xe BKS: 28G1-013.10

- 01 (một) mặt nạ của xe BKS: 28G1-013.10

- 01 (một) vỏ đuôi của xe BKS: 28G1-013.10

Đã trả lại cho chị Bùi Thị Ph nên không đề cập

Đối với phần yếm xe và biển số xe mô tô BKS: 28G1-013.10. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn đã truy tìm nhưng không thấy.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị Ph, ông Bùi Văn N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Bị cáo Hoàng Đỗ Th để lại xe mô tô BKS: 28G1-013.10, nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc cho anh Đỗ Văn S để làm tin và vay số tiền 1.500.000 đồng, anh S không biết đây là xe mà Th trộm cắp. Anh S đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe trên cho cơ quan điều tra, và không yêu cầu Th phải trả lại số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS; Nghị quyết 326 của Quốc hội, bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi và các Quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo các bị cáo Hoàng Đỗ Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng rạng sáng ngày 09/10/2022, Hoàng Đỗ Th đi bộ từ nhà ông Nguyễn Hữu T ở Tổ 2, khu T, thị trấn X, C M, Hà Nội đến khu vực dãy nhà trọ do chị Lê Thị T, SN: 1991 quản lý thuộc Tiểu khu L, L S, Hòa Bình thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh – đen - bạc, BKS: 28G1-013.10 của chị Bùi Thị Ph. Tổng giá trị tài sản là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Như vậy, hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh – đen - bạc, BKS: 28G1-013.10 của chị Bùi Thị Ph. Tổng giá trị tài sản là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo Hoàng Đỗ Thanh là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nên phải xử lý bằng pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: Tại Bản án số 30/2021/HSST ngày 13/08/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo Hoàng Đỗ Th 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/09/2022. Đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Do vậy lần phạm tội này của bị cáo Hoàng Đỗ Th thuộc trường hợp Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện đầu thú đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS cần xem xét áp dụng cho bị cáo.

- Về mức hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Toà án kết án về hành vi Trộm cắp tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, do bản tính lười lao động lại muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo đã tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc, số máy C12E-2899194; số khung: 1202BY099163 đã qua sử dụng.

- 01 (một) phần nhựa ốp đầu của xe BKS: 28G1-013.10

- 01 (một) mặt nạ của xe BKS: 28G1-013.10

- 01 (một) vỏ đuôi của xe BKS: 28G1-013.10

Đã trả lại cho chị Bùi Thị Ph nên không xem xét giải quyết.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Bùi Thị Ph, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn N không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Văn S không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 1.500.000 đồng, nên không đề cập giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc, số máy C12E-2899194; số khung: 1202BY099163 qua điều tra xác định chủ xe là chị Trần Thị H, SN: 1973, HKTT: Tiểu khu 11, thị trấn L S, L S, Hòa Bình. Khoảng năm 2018 đến năm 2019 (Chị H không nhớ rõ thời gian) chị Trần Thị H đã bán xe mô tô trên cho cửa hàng xe máy Vũ Đức Th có địa chỉ: SN 388 đường Trần Phú, Tổ 3, Tiểu khu 6, thị trấn L S, Hòa Bình. Ngày 07/01/2021 cửa hàng xe máy Vũ Đức Th đã bán chiếc xe máy trên cho ông Bùi Văn N, SN: 1976, HKTT: xóm Kh, C S, L S, Hòa Bình (là bố đẻ của chị Bùi Thị Ph) và có giấy tờ mua bán. Ông N giao chiếc xe trên cho con gái là chị Bùi Thị Ph quản lý và sử dụng. Ngày 10/12/2022 chị Bùi Thị Ph có đơn xin lại xe và không yêu cầu Hoàng Đỗ Th bồi thường thiệt hại. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn đã tiến hành trả lại xe mô tô cho chị Bùi Thị Ph. Xác định ông Bùi Văn N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Đối với anh Đỗ Văn S, SN: 1985, HKTT: Tổ 2, khu T, thị trấn X, C M, Hà Nội là người cho Hoàng Đỗ Th vay số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) và bị cáo để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc, số máy C12E-2899194; số khung: 1202BY099163 để làm tin. Anh S không biết đây là xe bị cáoTh trộm cắp mà có, anh S đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe trên cho cơ quan điều tra, nên xác định anh Sơn là người cóa quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Đối với phần yếm xe và biển số xe mô tô BKS: 28G1-013.10. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn đã truy tìm nhưng không thấy. Nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố : Bị cáo Hoàng Đỗ Th phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: Điểm b, khoản 1, Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đỗ Th 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2022

2.Về án phí: Bị cáo Hoàng Đỗ Th phải nộp 200.000 đồng án phí HSST

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ