- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Lê Công T và bị đơn Bà Võ Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của ông Lê Công T v i bà Võ Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2018/HNGĐ-PT Ngày: 17- 5- 2018 Về việc: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Thiện
Các thẩm phán:
Ông Phạm Trung Dũng
Ông Nguyễn Minh Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Trí Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 22/2018/TLPT-HNGĐ ngày 27/12/2018 về việc “Ly hôn”, do có kháng cáo của bị đơn.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2018/QĐPT ngày 23/4/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/QĐ-HPT ngày 07/5/2018; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 02/QĐ ngày 16/5/2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Công T, sinh năm: 1967;
Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Đường M, phường N, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Địa chỉ liên hệ: Đường A, phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).
- Bị đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm: 1970;
Địa chỉ nơi cư trú: Đường M, phường N, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 20-10-2017 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Công T trình bày:
Ông và bà Võ Thị T chung sống v i nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn v i bà Võ Thị T.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên Lê Công Q, sinh ngày 30/5/1995 và Lê Thanh H, sinh ngày 18/3/1998 (tất cả đều trưởng thành).
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu toà án giải quyết.
- Bị đơn bà Võ Thị T trình bày:
Về điều kiện chung sống và kết hôn đúng như ông T trình bày. Bà cho rằng, trư c đây do có mâu thuẫn về kinh tế gia đình nên Bà đã từng làm đơn ly hôn v i ông T, tuy nhiên, sau đó vợ chồng hàn gắn lại nên Bà rút đơn. Đến nay, ông T có mối quan hệ bất chính v i người phụ nữ khác, Bà không muốn gia đình đổ vỡ, con cái thiếu sự dạy bảo của bố, đồng thời Bà vẫn còn tình cảm v i chồng nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Đúng như ông T đã nêu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bản án dân sự sơ thẩm số22/2018/DSST ngày 08/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của ông Lê Công T v i bà Võ Thị T; ông T được ly hôn v i bà T.
Về con chung: Ông T và bà T có 02 (hai) con chung tên Lê Công Q, sinh ngày 30/5/1995; Lê Thanh H, sinh ngày 18/3/1998 (tất cả đều trưởng thành bình thường).
Về tài sản chung và nợ chung: Không ai yêu cầu nên không xem xét.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/02/2018, bà Võ Thị T có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại với những nội dung sau:
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm số 22/2018/DSST ngày 08/02/2018 của TAND thành phố Vũng Tàu theo hư ng không chấp nhận đơn khởi kiện của ông T, vì ông T có quan hệ ngoại tình v i người phụ nữ khác và trư c đây ông T đồng ý giao cho Bà 200.000.000đồng nhưng đến nay vẫn không thực hiện mà cấp sơ thẩm vẫn không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện; Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được v i nhau về việc giải quyết vụ án.
- Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn được lập đúng thủ tục và còn trong thời hạn quy định, nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xác định quan hệ tranh chấp cần được giải quyết là “Ly hôn” theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Các đương sự đều sinh sống tại thành phố Vũng Tàu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của TAND thành phố Vũng Tàu theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp và yêu cầu kháng cáo:
Ông Lê Công T và bà Võ Thị T đăng ký kết hôn v i nhau tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Vũng Tàu vào năm 1993, có tổ chức lễ cư i, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, không bị ép buộc, nên là hôn nhân hợp pháp theo qui định của pháp luật.
Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng diễn ra bình thường, sau đó thường phát sinh mâu thuẫn và kéo dài cho đến ngày hôm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông T là do bất đồng về kinh tế trong gia đình, không có sự chia sẻ v i nhau trong mọi vấn đề của cuộc sống; tình cảm ngày càng rạn nứt, vợ chồng không hợp nhau. Vì vậy, thời gian gần đây hai người đã sống ly thân nhau. Tuy nhiên, bà T lại cho rằng Bà vẫn còn tình cảm v i chồng nên không chấp nhận ly hôn.
Qua trình bày của các bên cũng như tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định việc vợ chồng ông T, bà T mâu thuẫn v i nhau mấy năm nay là có thật. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống và về kinh tế gia đình mà cả hai bên đều không có biện pháp để giải quyết, hàn gắn hạnh phúc. Mỗi người chỉ sống cho cá nhân của mình, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau và thực tế hai người đã sống ly thân nhau. Trư c đây, bà Thuyên cũng đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn v i ông T, nhưng sau đó lại rút đơn. Do đó, cuộc sống vợ chồng không còn ý ngh a, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Xét thấy, hạnh phúc là sự tự nguyện của cả hai bên, việc vợ chồng có thực sự hạnh phúc và trọn đời chung sống v i nhau được hay không chủ yếu là do con tim phải thuộc về nhau, nếu chỉ mình bà T muốn hàn gắn, níu kéo nhưng ông T hoàn toàn không hề rung động và không hề muốn quay lại thì sự níu kéo này cũng hoàn toàn vô ngh a, thực tế kể từ lâu hai tâm hồn đã không còn thuộc về nhau. Nếu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T thì bà T cũng không có được hạnh phúc thực sự mà ngược lại sẽ làm cả hai càng thêm mệt mỏi, cuộc sống gia đình càng đi vào bế tắc. Một khi cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được thì ly hôn cũng là một giải pháp cần được áp dụng để giải quyết. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử để ông T và bà T ly hôn là phù hợp v i thực trạng mâu thuẫn cũng như quy định của pháp luật, nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bà T.
Về con chung: Ông T và bà T có 02 (hai) con chung tên Lê Công Q, sinh năm 1995; Lê Thanh H, sinh năm 1998, tất cả đều đã trưởng thành, các bên không yêu cầu giải quyết, nên cấp sơ thẩm không xem xét là có cơ sở.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà T không ai yêu cầu giải quyết nên cấp sơ thẩm không xem xét. Tuy nhiên, nội dung kháng cáo bà T cho rằng: Trư c đây ông T đồng ý giao cho bà 200.000.000đồng nhưng đến nay vẫn không thực hiện.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung (thể hiện tại bản tự khai của bà T và biên bản hòa giải ngày 19/12/2017- Bút lục số 21, 22, 30), nên cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là đúng, cấp phúc thẩm không có quyền xem xét về nội dung này. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà T. Giành quyền khởi kiện cho các bên đương sự về tranh chấp tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật, nếu như có yêu cầu.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Cấp sơ thẩm đã tính đúng, nên không xem xét lại.
Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Vì kháng cáo không được chấp nhận, nên bà Thuyên phải nộp toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 22/2018/DSST ngày 08/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; Điều 39 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của ông Lê Công T v i bà Võ Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Công T được ly hôn bà Võ Thị T.
- Về con chung: Ông T và bà T có 02 (hai) con chung tên Lê Công Q, sinh năn 1995; và Lê Thanh H, sinh năm1998 (Tất cả đều đã trưởng thành, các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét).
- Về tài sản chung và nợ chung: Các bên không yêu cầu giải quyết từ cấp sơ thẩm, nên cấp phúc thẩm không xem xét. Giành quyền khởi kiện cho các bên đương sự về tranh chấp tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bằng môt vụ án khác theo quy định của pháp luật, nếu như có yêu cầu.
2. Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Bà Võ Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0001017 ngày 02/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Như vậy, bà T đã nộp đủ.
Bản án có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (Ngày 17/5/2018).
| Nơi nhận: -Đương sự; -VKSND Tỉnh BR_VT; -TAND TP-VT; -THA DS TPVT; -UBND P. M, TPVT; -lưu hồ sơ tại Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đoàn Ngọc Thiện |