- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Khánh cùng đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Xuân B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2026/HS-ST Ngày: 21 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Hồng Xuân
2. Bà Trần Thị Dần
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7- Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên VKSND khu vực 7- Thanh Hóa.
Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở TAND khu vực 7- Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS, ngày 12/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:01/2026/QĐXXST-HS, ngày 06/01/2026 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Văn K; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/09/1986, tại xã Ng, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 038086005908 (Theo danh, chỉ bản số 18 do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa lập ngày 10/09/2025); Nơi cư trú: Thôn N, xã Ng, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Bố: Bùi Tuấn L (Đã chết); Mẹ: Vũ Thị Q; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án. Ngày 05/7/2023, bị Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo bản án số 76/2023/HS-ST. Ngày 15/01/2025 chấp hành xong hình phạt tù chưa được xoá án tích; Bị bắt, tạm giam từ ngày 08/09/2025 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trịnh Xuân B; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/10/1996, tại xã Ng, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 038096016593 (Theo danh, chỉ bản số 19 do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa lập ngày 10/09/2025); Nơi cư trú: Thôn N, xã Ng, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Bố: Trịnh Xuân A (Đã chết); Mẹ: Quách Thị S; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 15/01/2020 bị Công an huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau; Ngày 21/01/2022, bị Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo bản án số 05/2022/HS-ST. Chấp hành xong bản án ngày 08/12/2022; Bị bắt, tạm giam từ ngày 08/09/2025 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/6/2025, Mai Xuân Đ, SN 1964, trú tại thôn M, xã Ng, tỉnh Thanh Hóa cùng một số người thợ nữa đi đến xây nhà cho gia đình anh Mai Văn K, SN 1984, trú tại thôn N, xã Ng, tỉnh Thanh Hóa. Trong khi đang làm thì Đ phát hiện có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y03, màu đen của anh Quản Văn H, SN 1976, trú tại thôn N, xã Ng, tỉnh Thanh Hóa đang để ở bàn uống nước nên Đ nảy sinh ý định trộm chiếc điện thoại này để mang về sử dụng. Quan sát không thấy có ai trông coi, quản lý nên Đ đã lợi sụng sơ hở của anh H lén lút, bí mật lấy chiếc điện thoại này bỏ vào túi quần bên phải của mình rồi đi đến cửa hàng sửa chữa điện thoại di động của gia đình anh Nguyễn Văn T, SN 1996, trú tại thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (chủ cửa hàng điện thoại T&T). Tại đây, Đ có nói chuyện và bảo với anh T rằng phá khóa chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y03 màu đen thì anh T nói với Đ rằng: “Chú cứ để điện thoại ở đây về đi, khi nào mở được khóa cháu sẽ gọi, tiền phá khóa điện thoại hết 200.000đ (hai trăm nghìn đồng)” thì Đ để điện thoại và ra về. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, anh H phát hiện mình bị mất điện thoại và nghi ngờ cho Đ lấy chiếc điện thoại.
Đến khoảng 14 giờ ngày 21/6/2025, Trịnh Xuân B và Bùi Văn K cùng một vài người nữa uống bia tại quán bia H ở thôn Q, xã Ng. Trong khi đang uống bia thì lần lượt có anh Quản Văn H, Mai Văn K và Mai Xuân Đ đến ngồi ở bàn bên cạnh và uống bia cùng với mọi người. Quá trình uống bia, ông Đ thừa nhận việc mình đã lấy chiếc điện thoại của anh H và nói sẽ dẫn anh H đi lấy điện thoại đang sửa chữa ở xã H, huyện H (nay là xã H), tỉnh Thanh Hóa. Trịnh Xuân B và Bùi Văn K ngồi bên cạnh nên biết anh H bị mất trộm điện thoại nhãn hiệu VIVO Y03 màu đen và ông Đ là người lấy trộm. Sau đó H, K, B và ông Đ đi tìm điện thoại ở xã H, huyện H, còn K vẫn ở lại tiếp tục uống bia. Tuy nhiên, do ông Đ say bia nên không nhớ quán sửa chữa điện thoại nên khi mọi người đến xã Hà L thì ông Đ lại bảo sửa chữa ở xã T nên mọi người quay lại. H, K, Đ đi trước, B đi sau. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì mọi người về đến quán cà phê C ở thôn Q, xã Ng để uống nước, anh H và ông Đ ngồi ở trước cửa quán, còn anh K thì đi tìm xe taxi để đi về. Trên đường đi về nhà, Trịnh Xuân B thấy ông Đ đang ngồi trên ghế nhựa nói chuyện với anh H ở vỉa hè trước quán cà phê C nên quay lại. Lúc này, K cũng đi xe máy đến thấy và dừng lại. B và K dựng xe ở lòng đường rồi đi lại chỗ ông Đ để hỏi chuyện về chiếc điện thoại của anh H. Khi gặp ông Đ thì K liền hỏi: “Có phải ông này lấy điện thoại không” nhưng Đ không trả lời nên K dùng chân đạp vào vùng mặt của ông Đ đang ngồi ở trên ghế khiến ông Đ ngã xuống nằm bất động. Tiếp đó, K đi lại chỗ ông Đ nằm đá một phát vào đầu ông Đ. Thấy vậy, anh H, anh K lại can ngăn kéo anh K đi ra ngoài đường tỉnh lộ 522, mọi người ở gần đó thấy ồn ào nên có đến xem. Lúc này, K và B liên tục chửi ông Đ và nói chuyện với ông Đ về việc dẫn ông Đ đi lấy điện thoại cho anh H nhưng ông Đ vẫn không dậy. K đi lại kéo ông Đ dậy nhưng ông Đ không dậy thì B đi lại gần dùng chân dí vào vùng mang tai ông Đ. Anh H thấy vậy đến can ngăn đẩy ra ngoài đường. Một lúc sau, ông Đ tỉnh dậy và ngồi lên ghế thì K và H ngồi nói chuyện với ông Đ và hỏi ông Đ rằng: “Điện thoại cầm ở đâu, đi lấy về” nhưng ông Đ vẫn không nói gì. K bực tức cầm 01 (một) chiếc ghế nhựa màu đỏ của quán đập vào vùng đỉnh đầu của ông Đ làm ghế bị thủng một miếng ở mặt ghế. Thấy vậy, B đang ngồi ở trên xe máy đối diện ông Đ, cách ông Đ khoảng 1,5 mét chạy lại dùng tay tát một phát vào mặt của ông Đ làm ông Đ ngã xuống nền bê tông trước quán. Sau đó, B và K tiếp tục chửi bới ông Đ được khoảng 05 phút nữa rồi bỏ đi uống bia. Anh K đưa ông Đ về nhà thì được người nhà đưa đi sơ cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 394/KLTTCT-PYTH ngày 22/08/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh Thanh Hóa kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Mai Xuân Đ tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 17/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã Ngọc Trạo, tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y03 loại 4GB-64GB, màu đen, IMEI: 869383077634665. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, mua tại thời điểm tháng 2/2025, định giá tại thời điểm ngày 21/06/2025 có giá trị là 1.617.000 đồng (Một triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng).
- 01 (một) chiếc ghế nhựa màu đỏ kích thước 26 x 29 x 29 cm, đã qua sử dụng giá trị 45.000 đồng (Bốn mươi lăm nghìn đồng).
Sau khi sự việc xảy ra, ông Nguyễn Văn T, là trưởng thôn Q, xã Ng, tỉnh Thanh Hóa và người dân sinh sống tại thôn Q, xã Ng nơi xảy ra sự việc rất bức xúc và có báo cáo phản ánh sự việc trên gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSKV7, ngày 11/12/2025 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) khu vực 7 - Thanh Hóa đã truy tố Bùi Văn K về về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Trịnh Trịnh Xuân B về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phần tranh tụng tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt Bùi Văn K từ 30 đến 33 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 08/9/2025).
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt Trịnh Xuân B từ 09 đến 12 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 08/9/2025).
Về xử lý vật chứng: 01 (một) chiếc ghế nhựa màu đỏ, mặt ghế bị thủng, vỡ một phần đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, xác định đây là chiếc ghế mà Bùi Văn K sử dụng để gây thương tích cho Mai Xuân Đ. Đây là tài sản của chị Bùi Thị M nhưng chị M không có yêu cầu các bị cáo bồi thường, cũng không có yêu cầu nhận lại nên đại diện VKS đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thanh Hóa, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Vào tối ngày 21/06/2025, tại trước cửa quán cà phê C của gia đình chị Bùi Thị M, SN 1988, trú tại thôn Q, xã Ng, tỉnh Thanh Hóa ngay sát Tỉnh lộ 522, Bùi Văn Khánh có hành vi sử dụng ghế nhựa của quán cà phê đánh vào đỉnh đầu, dùng chân đá vào đầu, đạp vào vùng mặt của ông Mai Xuân Đ, còn Trịnh Xuân B có hành vi dùng chân dí vào vùng mang tai, dùng tay không tát vào vùng mặt của Mai Xuân Đ. Sau khi sự việc xảy ra, ông Nguyễn Văn T, là trưởng thôn Q, xã Ng, tỉnh Thanh Hóa và người dân sinh sống tại thôn Q, xã Ng nơi xảy ra sự việc rất bức xúc và có báo cáo phản ánh sự việc trên gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo Bùi Văn K đã phạm vào điểm b, khoản 2, Điều 318 BLHS. Hành vi của Trịnh Xuân B đã phạm vào khoản 1 Điều 318 BLHS.
. Về trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, Bùi Văn K là người có hành vi đánh ông Đ trước và dùng ghế (là hung khí) đánh vào đầu ông Đ nên K có vai trò thứ nhất. Trịnh Xuân B tiếp nhận ý chí từ K và dùng tay, chân lao vào tấn công ông Đ nên B có vai trò thấp hơn K.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trịnh Xuân B phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Bùi Văn K có 01 tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS.
Các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Xuân B đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Bồi thường thiệt hại” và “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Các bị cáo đều có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Những tình tiết này cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
. Về tính chất của vụ án và hình phạt: Hành vi nêu trên của các bị cáo đã gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự ngay cạnh tuyến Tỉnh lộ 522, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của quán, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Bản thân các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo K hiện đang có 01 tiền án nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần lên cho các bị các một mức án tương xứng và cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo, tu dưỡng bản thân, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
. Đối với hành vi gây thương tích cho ông Mai Xuân Đ với tỉ lệ tổn cơ thể là 1%. Trong quá trình điều tra, đại diện gia đình Bùi Văn K và Trịnh Xuân B đã bồi thường cho Mai Xuân Đ số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Ngày 28/8/2025, Mai Xuân Đ có đơn không yêu cầu khởi tố. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá không ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Bùi Văn K và Trịnh Xuân B về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 BLHS và chuyển Công an tỉnh Thanh Hoá xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn K và Trịnh Xuân B về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội theo quy định pháp luật.
. Đối với hành vi của Bùi Văn K sử dụng ghế nhựa đánh vào đầu Mai Xuân Đ làm chiếc ghế bị vỡ, gây thiệt hại tài sản cho chị Bùi Thị M chủ quán. Tuy nhiên căn cứ vào kết quả định giá tài sản chiếc ghế là 45.000đ (Bốn mươi lăm nghìn đồng). Do đó hành vi của Bùi Văn K không cấu thành tội Hủy hoại hoặc Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác được quy định tại Điều 178 BLHS. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa chuyển hồ sơ đến Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa để xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn K là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Bùi Thị M cũng không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại đối với giá trị của chiếc ghế bị hư hỏng nên HĐXX không xem xét.
. Đối với Mai Xuân Đ đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 (một) điện thoại di động Vivo Y03 loại 4GB-64GB, màu đen, IMEI: 869383077634665, đã qua sử dụng của anh Quản Văn H có giá trị là 1.617.000 đồng (Một triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng). Tại thời điểm vi phạm Mai Xuân Đ không có tiền án, tiền sự. Vì vậy, hành vi của Mai Xuân Đ không cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 BLHS. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa chuyển hồ sơ đến Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa để xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về xử lý vật chứng: Đối 01 (một) chiếc ghế nhựa màu đỏ kích thước 26 x 29 x 29 cm, mặt ghế bị thủng, vỡ một phần đã qua sử dụng. Đây là tài sản của chị Bùi Thị M, chị M không yêu cầu nhận lại. Chiếc ghế cũng không còn giá trị nên cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tuyên tịch thu, tiêu hủy.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đối với Bùi Văn K.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS đối với Trịnh Xuân B.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Xuân B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về mức hình phạt
- Xử phạt Bùi Văn K 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 08/9/2025).
- Xử phạt Trịnh Xuân B 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 08/9/2025).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS. Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 (một) chiếc ghế nhựa màu đỏ kích thước 26 x 29 x 29 cm, mặt ghế bị thủng, vỡ một phần đã qua sử dụng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 10/01/2026 giữa Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Thanh Hoá và Phòng thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Thanh Hóa.
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 6, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Các bị cáo Bùi Văn K và Trịnh Xuân B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 7 - Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an tỉnh Thanh Hóa; - THADS tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Cúc |