vanban.org

Bản án 08/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần Jean dài, màu xanh, nhãn hiệu Gravali.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Hoài H phải chịu 200.000 đồng. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoài H - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần Jean dài, màu xanh, nhãn hiệu Gravali.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2026/HS-ST
Ngày: 25/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Ngọc Lâm.

Bà Bùi Ngọc Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thành Thật là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 5- Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ẩn – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 5- Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số: 05/2026/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoài H, sinh ngày 02/02/1979 tại: Cà Mau; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: ấp R, xã P, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công Tr và bà Nguyễn Thị Th; vợ Đốc Thị Tuyết V; con 02 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: 02 lần: Ngày 26/9/2023, bị cáo Nguyễn Hoài H bị Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tuyên phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 24/2023/HS-ST, chấp hành xong ngày 17/01/2024, đã nộp xong án phí. Ngày 26/02/2025, bị Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển tuyên phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số: 07/2025/HS-ST, chấp hành xong ngày 26/8/2025, đã nộp xong án phí; Tiền sự: Không; Bị cáo bị giam từ ngày 22/12/2025 đến nay (có mặt).

Bị hại:

- Ông Lê Trùng D, sinh năm: 1995 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp K, xã P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 27/11/2025, bị cáo Nguyễn Hoài H, sinh năm 1979 cùng ông Nguyễn Văn Đ (Tư C), sinh năm 1957, điều khiển võ từ nhà của ông Được ở ấp D, xã P, tỉnh Cà Mau qua sông R đến bến phà Trung Nh ở ấp K, xã P, tỉnh Cà Mau để mua xăng đi câu cá. Khi đến bến phà Trung Nh thì ông Đ và bị cáo H đậu võ cặp bến phà, ông Đc lấy can nhựa đi đến cây xăng Trung Nh để mua xăng còn bị cáo H đi lên nhà (chòi) của ông Lê Trùng D, sinh năm 1995, (cặp bờ sông Rạch Gốc, gần bến phà) ngồi ở sàn nhà đợi ông Được. Tại đây, bị cáo H thấy gần cửa nhà có 01 (một) điện thoại di động (hiệu Redmi 13, màu xanh, 128GB, ốp lưng nhựa trong suốt, không sim số) nên nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại để sử dụng, bị cáo H quan sát xung quanh, trong nhà không có người nên lấy trộm điện thoại bỏ vào túi quần bên phải đang mặc (quần sọt, màu xanh, loại kaki). Sau khi lấy trộm điện thoại, bị cáo H đi bộ theo hướng cầu R về nhà ông Đ trước. Bị cáo H cất giấu điện thoại vào túi quần Jean (dài, màu xanh) của bị cáo H treo bên trong nhà của ông Đ. Đến khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày, phát hiện mất tài sản nên Lê Trùng D lấy điện thoại khác định vị điện thoại bị mất thì phát hiện điện thoại đang ở vị trí nhà ông Đ nên đến Công an xã P trình báo sự việc.

Qua xác minh Công an xã P phát hiện bị cáo Nguyễn Hoài H có dấu hiệu nghi vấn, tiến hành mời bị cáo H về trụ sở làm việc. Tại đây, bị cáo H khai nhận toàn bộ sự việc trộm tài sản của bị hại Lê Trùng D và giao nộp tài sản trộm cho Công an.

Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự xã P, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 13, 128GB, màu xanh, kèm theo ốp lưng điện thoại (đã qua sử dụng) trị giá 2.807.000 đồng.

Tại phiên tòa: Đối với Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 10/02/2026 và đề nghị:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 47; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài H từ 02 năm đến 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả cho bị hại, bị hại không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần Jean dài, màu xanh, nhãn hiệu Gravali.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Hoài H: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Ông Lê Trùng D vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hoài H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để khẳng định:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 27/11/2025 tại ấp K, xã P bị cáo Nguyễn Hoài H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Lê Trung D gồm 01 điện thoại di động hiệu Redmi 13, 128GB, màu xanh, kèm theo ốp lưng điện thoại (đã qua sử dụng) có giá trị 2.807.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoài H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của ông Lê Trung D được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết rõ tài sản của người khác quản lý không ai có quyền chiếm đoạt một cách trái pháp luật nhưng với mong muốn có điện thoại để sử dụng cá nhân nên bị cáo H đã lợi dụng sự sơ hở của người quản lý tài sản và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại một cách trái pháp luật. Với hành vi nêu trên, bị cáo Nguyễn Hoài H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do mình gây ra. Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích của theo Bản án số 24/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 và Bản án số: 07/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5- Cà Mau) nên đây thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Hoài H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét bị cáo Nguyễn Hoài H là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung trong công tác phòng chống tội phạm tại địa phương cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định giúp bị cáo có điều kiện được giáo dục trở thành người sống có ích hơn cho xã hội. Do đó đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt là phù hợp được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt bị hại đã nhận lại và không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 (một) quần Jean dài, màu xanh, nhãn hiệu Gravali của bị cáo dùng để cất giấu tài sản chiếm đoạt và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Hoài H phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ Luật tố tụng Hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/12/2025, về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần Jean dài, màu xanh, nhãn hiệu Gravali.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Hoài H phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ