vanban.org

Bản án 08/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Cầm Thị D.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cầm Thị D được ly hôn anh Đinh Văn T. Về con chung: Cháu Đinh Văn A, sinh ngày 15/11/2003 đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Cầm Thị D xxin ly hôn anh Đinh Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Cầm Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 06-02-2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Thân

Bà Bàn Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Khánh Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 09/2026/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cầm Thị D, sinh năm 1985.

Địa chỉ: bản L, xã PY, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: bản E, xã PY, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 15/9/2025 và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Cầm Thị D trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cầm Thị D và anh Đinh Văn T kết hôn với nhau ngày 15 tháng 9 năm 2006. Trước khi kết hôn hai anh, chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã HT, huyện PY, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã PY, tỉnh Sơn La). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do anh, chị bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, đời sống chung không hòa hợp. Hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ khi xảy ra mâu thuẫn đến nay, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Cầm Thị D yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Đinh Văn T.

Về con chung: có ba con chung là các cháu Đinh Văn A, sinh ngày 15/11/2003; cháu Đinh Công B, sinh ngày 07/12/2013 và cháu Đinh Như C, sinh ngày 06/3/2017. Cháu Đinh Văn A đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Từ khi anh, chị ly thân đến nay, cháu Đinh Như C ở cùng gia đình chị Cầm Thị D; cháu Đinh Công B ở cùng anh Đinh Văn T. Chị Cầm Thị D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đinh Như C đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động; nhường quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đinh Công B cho anh Đinh Văn T; cháu Đinh Văn A đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: chị Cầm Thị D tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Tại biên bản xác minh lập ngày 20/11/2025 với chính quyền địa phương bản E, xã PY, tỉnh Sơn La xác định:

Về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như ý kiến của chị Cầm Thị D trình bày. Hai anh, chị kết hôn tự nguyện và chung sống với nhau tại bản E, xã PY, tỉnh Sơn La từ năm 2006 đến nay, sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2023 và đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh, chị bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn của hai vợ chồng đã được gia đình hoà giải nhưng không thành. Hai anh, chị đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay và đã ly thân, hai anh, chị không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Về con chung: có ba con chung là cháu Đinh Văn A, sinh năm 2003; cháu Đinh Công B, sinh năm 2013 và cháu Đinh Như C, sinh năm 2017. Hiện cháu Đinh Văn A đã thành niên, cháu Đinh Như C đang ở cùng gia đình chị Cầm Thị D và cháu Đinh Công B ở cùng gia đình anh Đinh Văn T.

Trong cả quá trình thụ lý, giải quyết vụ án bị đơn anh Đinh Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản E, xã PY, tỉnh Sơn La. Anh T đã nhận được bản sao các tài liệu chứng cứ của chị Cầm Thị D giao nộp tại Toà án, đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án nhân dân khu vực 5 - Sơn La nhưng cố tình vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai và không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn, sau khi thụ lý vụ án bị đơn đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn biết về việc khởi kiện của nguyên đơn, đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án và được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt. Toà án áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án là đúng với quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, 59, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 228, Điều 273, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Cầm Thị D.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cầm Thị D được ly hôn anh Đinh Văn T.

- Về con chung: Cháu Đinh Văn A đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giao cháu Đinh Như C, sinh ngày 06/3/2017 cho chị Cầm Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Giao cháu Đinh Công B, sinh ngày 07/12/2013 cho anh Đinh Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

- Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Cầm Thị D và anh Đinh Văn T, do hai anh chị chưa có yêu cầu.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: nguyên đơn là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Cầm Thị D khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn. Do đó, quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đinh Văn T cư trú tại bản E, xã PY, tỉnh Sơn La. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.

Bị đơn Đinh Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đinh Văn T đã cố tình trốn tránh, không chấp hành giấy triệu tập của Toà án.

Anh Đinh Văn T biết chị Cầm Thị D khởi kiện ly hôn nhưng cố tình không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cầm Thị D và anh Đinh Văn T đăng ký kết hôn vào ngày 15/9/2006. Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không thuộc các trường hợp cấm kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã HT, huyện PY, tỉnh Sơn La (nay là UBND xã PY, tỉnh Sơn La). Do đó quan hệ hôn nhân của chị Cầm Thị D và anh Đinh Văn T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023, đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đời sống chung không hòa hợp. Hai anh, chị sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Lời khai của chị Cầm Thị D là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nay chị Cầm Thị D xác định không còn tình cảm với anh Đinh Văn T và yêu cầu ly hôn. Tòa án đã triệu tập anh Đinh Văn T nhiều lần nhằm mục đích hòa giải cho vợ chồng anh, chị đoàn tụ nhưng anh T không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Điều đó chứng minh rằng anh Đinh Văn T không còn tình cảm với chị Cầm Thị D. Xét thấy mâu thuẫn hôn nhân của hai anh, chị thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cầm Thị D là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh, chị có ba con chung là cháu Đinh Văn A, sinh ngày 15/11/2003; cháu Đinh Công B, sinh ngày 07/12/2013 và cháu Đinh Như C, sinh ngày 06/3/2017. Cháu Đinh Văn A đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, chị Cầm Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết, cần chấp nhận.

Đối với cháu Đinh Như C và cháu Đinh Công B, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý của các cháu và phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Cần giao cháu Đinh Như C, sinh ngày 06/3/2017 cho chị Cầm Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Đinh Công B, sinh ngày 07/12/2013 cho anh Đinh Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Cầm Thị D và anh Đinh Văn T đều chưa yêu cầu cấp dưỡng. Vì vậy, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với hai anh chị.

Về tài sản chung, tài sản riêng và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chị Cầm Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên chị Cầm Thị D là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định 68/QĐ-UBND ngày 09/01/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La và Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 của Chính phủ quy D về phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030; tại phiên tòa, chị có yêu cầu được miễn án phí, do vậy cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Cầm Thị D.

Hoàn trả lại cho chị Cầm Thị D 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: BLTU/25E/0000628 ngày 30/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 3 Điều 228; Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Cầm Thị D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cầm Thị D được ly hôn anh Đinh Văn T.

2. Về con chung: Cháu Đinh Văn A, sinh ngày 15/11/2003 đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giao cháu Đinh Như C, sinh ngày 06/3/2017 cho chị Cầm Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Giao cháu Đinh Công B, sinh ngày 07/12/2013 cho anh Đinh Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

3. Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Cầm Thị Đinh và anh Đinh Văn T, do hai anh chị chưa có yêu cầu.

4. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí: Chị Cầm Thị D được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho chị Cầm Thị D số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La theo biên lai thu tiền số BLTU/25E/0000628 ngày 30 tháng 10 năm 2025.

6. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 06/02/2026). Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ