vanban.org

Bản án 08/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Y được ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con chung: Chị Hoàng Thị Y và anh Phạm Văn T có 01 người con chung tên Phạm D, sinh ngày 04/8/2019, sau khi ly hôn chị Hoàng Thị Y được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Hoàng Thị Y chưa yêu cầu. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Y"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Y được ly hôn với anh Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 12-3-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hải Đoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Hoàng Anh.

Bà Lê Thị Hồng Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai - Thư ký viên, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Mã Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vưc 4 - Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 02 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2026/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Y, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn Đ, xã K, tỉnh Tuyên Quang. Số CCCD: 00819…….. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

1. Anh Đặng Hồng S, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn 01, xã T, tỉnh Thanh Hoá, là người đại diện theo uỷ quyền (theo giấy uỷ quyền ngày 29/8/2025). Vắng mặt.

2. Anh Trần Mạnh C, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Thôn H, xã S, tỉnh Phú Thọ, là người đại diện theo uỷ quyền (theo giấy uỷ quyền ngày 29/8/2025). Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, tỉnh Lạng Sơn. Số CCCD: 02009….. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 10 năm 2025, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Hoàng Thị Y trình bày:

Chị Hoàng Thị Y và anh Phạm Văn T đăng ký kết hôn ngày 21/01/2019, tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (nay là Uỷ ban nhân dân xã Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn), trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.

Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân, anh Tú không tu trí làm ăn, không quan tâm vợ con, vợ chồng khắc khẩu thường xuyên cãi nhau, đánh nhau, cách nhìn nhận cuộc sống và quan điểm của hai vợ chồng cũng không đồng thuận. Gia đình hai bên khuyên nhủ nhiều lần nhưng không hoà giải được nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Từ khi ly thân, hai vợ chồng không còn ai quan tâm đến ai, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, xác định tình cảm vợ chồng không còn chị Hoàng Thị Y yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con chung, vợ chồng có 01 người con chung tên Phạm D, sinh ngày 04/8/2019, hiện nay con chung đang ở cùng bị đơn. Tại đơn ly hôn, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Do quá trình giải quyết bị đơn vắng mặt không có ý kiến về con chung nên nguyên đơn thay đổi yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết cho nguyên đơn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Về điều kiện nuôi con, nguyên đơn có thu nhập ổn định khoảng 8.000.000đồng đến 10.000.000đồng/tháng và có chỗ ở hợp pháp tại thôn Đồng Tân, xã Kim Bình, tỉnh Tuyên Quang.

Về tài sản chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Văn T vắng mặt nên không có văn bản trình bày ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ; bị đơn thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về hôn nhân, chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Y về việc ly hôn với anh Phạm Văn T. Về con chung, giao con chung Phạm D, sinh ngày 04/8/2019 cho chị Hoàng Thị Y được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không xem xét giải quyết. Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt, nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Y và anh Phạm Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 21/01/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Lạng Sơn, nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Về yêu cầu ly hôn: Xét thấy, cuộc sống hôn nhân có nhiều bất đồng dẫn đến vợ chồng thường xuyên căng thẳng, không hạnh phúc. Từ tháng 8 năm 2023 đến nay vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Mâu thuẫn vợ chồng ở trên phù hợp với biên bản xác minh ngày 17/12/2025 của Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị Hoàng Thị Y và anh Phạm Văn T có 01 người con chung tên Phạm D, sinh ngày 04/8/2019. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án bị đơn không hợp tác, không chấp hành giấy triệu tập, thông báo của Tòa án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ về điều kiện và ý kiến nuôi con; nguyên đơn thay đổi yêu cầu, đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến 18 tuổi và cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh nguyên đơn đảm bảo điều kiện, khả năng về chỗ ở, thu nhập để nuôi con. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung Phạm D cho nguyên đơn nuôi dưỡng, giáo dục.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Xét thấy, Tòa án đã giải thích việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chung, nhưng nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung và xét thấy nguyên đơn có đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không buộc bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự để nộp ngân sách Nhà nước.

Xét thấy, ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Y được ly hôn với anh Phạm Văn T.

2. Về con chung: Chị Hoàng Thị Y và anh Phạm Văn T có 01 người con chung tên Phạm D, sinh ngày 04/8/2019, sau khi ly hôn chị Hoàng Thị Y được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Hoàng Thị Y chưa yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị Hoàng Thị Y đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000983 ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ