vanban.org

Bản án 08/2025/HSST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 16/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của c…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HSST
Ngày: 16/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Song Hoàng

2. Ông Hà Văn Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 405/2024/HSST ngày 06 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 465/2024/HSST- QĐXX ngày 26 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Phan Văn T, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: ấp Phước T, xã Phước T, huyện Long Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phan C; Con bà: Nguyễn Thị T; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại: Ấp Phước T, xã Phước T, huyện Long Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sở giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đỗ Hải T – Quyền giám độc (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có Giấy phép lái xe mô tô nên vào khoảng đầu năm 2022, Phan Văn T đã nảy sinh ý định tìm mua Giấy phép lái xe giả nhằm đối phó với Cơ quan Công an khi tham gia giao thông. Thực hiện ý định này, T lên mạng xã hội Facebook tìm kiếm các tài khoản làm giả Giấy phép lái xe. Sau một hồi tìm kiếm, T liên hệ được với một đối tượng (không rõ lai lịch) để làm giả Giấy phép lái xe, hai bên thỏa thuận chi phí là 1.500.000 đồng và người bán gửi Giấy phép lái xe giả về nhà cho T, tại địa chỉ: ấp Phước T, xã Phước T, huyện Long Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo hình thức Ship Cod (Người bán gửi hàng qua Công ty dịch vụ vận chuyển cho người mua, người mua sẽ thanh toán tiền hàng tại thời điểm nhận hàng). Sau khi thỏa thuận xong chi phí và phương thức giao nhận hàng, T chụp hình Căn cước công dân gửi cho đối tượng làm giả để cung cấp thông tin cá nhân. Khoảng 01 tuần sau, Tú nhận được 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 giả số 770226527449, mang tên Phan Văn T và 01 bộ hồ sơ thi sát hạch cấp giấy phép lái xe giả, T thanh toán số tiền 1.500.000 đồng cho người giao hàng, mang bộ hồ sơ giả vào nhà cất giấu và sử dụng Giấy phép lái xe giả để tham gia giao thông. Đến ngày 30/3/2024, Phan Văn Tú mang theo Giấy phép lái xe giả điều khiển xe mô tô biển số 72K1-706.81 lưu thông trên đường 3/2, theo hướng từ huyện Long Điền đến khu vực trung tâm thương mại Lotte Mart, thuộc phường Thắng Tam, thành phố Vũng Tàu, tỉnh BR-VT. Khi Tú đi đến khu vực trước trường THPT chuyên Lê Qúy Đôn, thuộc Phường 11, thành phố Vũng Tàu, tỉnh BR-VT, thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Vũng Tàu yêu cầu dừng xe kiểm tra với lỗi chạy quá tốc độ. Trong quá trình làm việc, Đội Cảnh sát giao thông yêu cầu Tú xuất trình Giấy phép lái xe và các giấy tờ cá nhân có liên quan để kiểm tra, Tú liền cung cấp Giấy phép lái xe mô tô làm giả hạng A1 số 77026527449, số Seri: BL918482 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 29/3/2022. Sau khi tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với Tú về lỗi chạy quá tốc độ và tạm giữ Giấy phép lái xe của Tú. Sau đó, qua kiểm tra phát hiện Giấy phép lái xe do Tú cung cấp là giả nên Đội Cảnh sát giao thông đã chuyển hồ sơ vụ việc qua Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vũng Tàu để xác minh xử lý theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số: 107/KL-KTHS-TL ngày 07/08/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BR-VT kết luận đối với giấy phép lái xe thu giữ của Phan Văn Tú như sau:

“1. Phôi Giấy phép lái xe cần giám định ký hiệu A là giả.

2. Chữ ký, hình dấu trên mẫu cần giám định ký hiệu A và mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 đều được tạo ra bằng phương pháp in chuyển nhiệt (không phải là chữ ký, hình dấu trực tiếp như mẫu giấy phép lái xe cũ) nên không giám định.”.

Quá trình điều tra, Phan Văn T đã khai nhận hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả, công nhận kết quả giám định. Lời khai của T phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án (BL 19 - 35).

Việc thu giữ, xử lý vật chứng, đồ vật có liên quan: 01 giấy phép lái xe số 770226527449 mang tên Phan Văn T, cạnh dưới mặt sau phôi có chữ BL918482 ngày 29/3/2022 chuyển theo hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 371/CT-VKS ngày 21/11/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Phan Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đồng thời đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T mức án từ đến 30 đến 40 triệu đồng.

Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng và Luận tội mà Viện kiểm sát nêu. Không có ý kiến tranh luận và tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do không có giấy phép lái xe hạng A1 nên năm 2022, Phan Văn T đã lên mạng xã hội facebook nhờ một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch làm giả Giấy phép lái xe để sử dụng nhằm đối phó với cơ quan chức năng khi lưu thông xe máy trên đường. Vào ngày 30/3/2024, Phan Văn T sử dụng 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 (theo kết luận giám định của Cơ quan chuyên môn kết luận là giả), có số 77026527449, số Seri: BL918482, ghi là Sở Giao thông vận tải tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp ngày 29/3/2022, để điều khiển xe mô tô biển số 72K1-706.81 lưu thông trên đường 3/2, theo hướng từ huyện Long Điền đến khu vực trung tâm thương mại Lotte Mart thuộc phường Thắng Tam, thành phố Vũng Tàu, tỉnh BR-VT. Khi T chạy đến khu vực trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, thuộc Phường 11, thành phố Vũng Tàu, tỉnh BR-VT thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện thu giữ tang vật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo T đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 371/CT-VKS ngày 27 tháng 11 năm 2024 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương; Do đó, cần có hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội, nhằm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo đồng thời phòng chống tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm cho một phần hình phạt khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe số 770226527449 mang tên Phan Văn Tú, cạnh dưới mặt sau phôi có chữ BL918482 ngày 29/3/2022 là chứng cứ nên lưu theo hồ sơ vụ án.

Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng bán Giấy phép lái xe giả cho Phan Văn T, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, chưa bắt được nên chưa có cơ sở xử lý; đề nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với bộ hồ sơ cấp Giấy phép lái xe giả, Phan Văn T khai nhận trong thời gian sử dụng đã để thất lạc, do đó không có căn cứ để xem xét xử lý Tú đối với hành vi sử dụng bộ hồ sơ giả này.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Phan Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí. Buộc bị cáo Phan Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ