vanban.org

Bản án 08/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 25/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng K phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng iểm a, n khoản 1 Điều 123; iểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57, Điều 50; Điều 38; Điều 15, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 ược s a ổi bổ sung năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hồng K phạm tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng K phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 25-02 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Thư

Thẩm phán: Bà Lê Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Tuyết

Ông Điểu Bách

Bà Lương Thị Diệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thuý Mai - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong các ngày 13, 19 và 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước t sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLHS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết ịnh ưa vụ án ra t

số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 ối với bị cáo:

Vũ Hồng K; sinh ngày 21 tháng 10 năm 1977; tại Thái Bình; nơi cư trú: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; t n giáo: kh ng; trình ộ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; cha tên Vũ Văn N, sinh năm 1947; mẹ tên Nguyễn Thị N1, sinh năm 1953, cùng sinh sống tại óm A, ã H, huyện G, Nam Định; vợ tên Vũ Thị L, sinh năm 1982 ( ã ly h n). Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: kh ng.

Bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 30/12/2024 ến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Lỷ Nhành P, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Ấp T, ã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện tại: Ấp C, ã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt

2. Nguyễn Tố Q, sinh năm 1996; Nơi thường trú: Ấp F, ã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: Ấp C, ã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt

3. La Thị H, sinh năm 1997; Nơi thường trú: Ấp B, ã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện tại: Th n E, ã S, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có ơn in t vắng mặt

4. Trần Đức K1, sinh năm 1959; Nơi thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt

5. Phạm Minh D, sinh năm 1981; Nơi thường trú: Ấp B, ã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Ng Quốc C, sinh năm 1973- Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ngân hàng S Chi nhánh B2, người ại diện: Nguyễn Văn B, chức vụ: Phó Giám ốc chi nhánh Phụ trách Khách hàng cá nhân; người ại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Nguyễn Thế Q1, chức vụ: Phó trưởng phòng Phụ trách Phòng khách hàng cá nhân; Lê Văn Đ, chức vụ: Chuyên viên lý nợ. Có mặt

2. Vũ Thị L, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Th n T, ã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện tại: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1964; ịa chỉ: N thường trú: Khu phố E, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt

2. Phạm Văn Đ1, sinh năm 1966; Nơi thường trú: số E, P, L, B, Đồng Nai; Nơi ở hiện tại: Khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Có mặt

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại Lỷ N, Nguyễn Tố Q: bà Hồ Thị Thu H1, sinh năm 1991 và ng Phan Phúc Đ2, sinh năm 1988; ịa chỉ: Công ty L2 – Chi nhánh B2. Bà H1 có mặt, ng P vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án ược tóm tắt như sau:

Vũ Hồng K là nhân viên Công ty TNHH MTV D1 (gọi tắt là Công ty D1). Từ năm 2018, K ược Công ty D1 phân c ng ến làm ội trưởng ội bảo vệ cho Công ty TNHH S1 (gọi tắt là Công ty S1), ịa chỉ: Khu c ng nghiệp Đ, khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Quá trình làm việc, do K thường uyên ảy ra mâu thuẫn với các nhân viên của Công ty S1 nên ến khoảng tháng 5/2022, Công ty S1 ã kiến nghị với Công ty D1 về việc yêu cầu sa thải và cho nghỉ việc ối với K. Ngày 17/5/2022, Công ty D1 ã cho K nghỉ việc.

Do kh ng ược thầu trong c ng ty nữa nên bị cáo muốn gặp Lỷ Nhành P ể trao ổi việc bị cáo ã ầu tư vật chất vào công ty T1 nhằm lấy lại ược số tiền nhất ịnh ể trang trải cuộc sống do vợ ã ly h n, một mình bị cáo phải nu i 03 con nhỏ nên hoàn cảnh rất khó khăn nhưng anh P kh ng gặp, kh ng nghe máy

Khoảng 17 giờ ngày 05/12/2023, sau khi uống bia với một số người bạn thì K một mình iều khiển e t nhãn hiệu Kia Rondo, biển số 93A-182.89 i ến Công ty S1 ể tìm anh P. Khi ến phía trước cổng Công ty S1, K ậu e t trên ường nội bộ của KCN Đ II rồi i vào ứng trước phòng bảo vệ của c ng ty ch i nhân viên bảo vệ. Do thấy K ã có uống rượu bia nên các nhân viên bảo vệ ã không cho K vào. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, K nhìn thấy anh P và vợ là chị Nguyễn Tố Q dắt e m t hiệu NVX, biển số 60B6 - 498.46 ra cổng chuẩn bị i về thì K i ra ngồi lên e t của K chờ sẵn. Do nghi ngờ K sẽ ến gặp anh P ể gây chuyện nên ng Phạm Văn Đ1, SN 1966, là Đội trưởng ội bảo vệ tại Công ty S1, ã phân c ng anh Nguyễn Hữu B1, SN 1964, là trưởng ca trực bảo vệ iều khiển e m t i theo anh P và chị Q ể hỗ trợ khi có sự việc ảy ra.

Khi anh P iều khiển e m t chở chị Q i ra khỏi c ng ty và dự ịnh rẽ trái về hướng khu thị “The Gold City” ể i về thì K iều khiển e i theo phía sau e của anh P. Do lo sợ K i theo gây rắc rối nên anh P quay ầu e i ra hướng cổng KCN Đồng Xoài II thì K cũng iều khiển e t quay ầu di chuyển theo hướng e của anh P. Anh P iều khiển e m t chạy ược khoảng 100m thì chị Q ngồi ở phía sau nhìn ra phía sau thấy K vẫn ang iều khiển e t chạy theo nên nói cho anh P biết thì anh P tăng tốc ộ e. Khi e m t của anh P iều khiển chạy ến khu vực phía trước cổng Công ty S2, ịa chỉ: KCN Đ thì bị K iều khiển e t chạy lên t ng trực tiếp vào phía sau e m t của anh P iều khiển làm e m t của anh P ngã ra ường; e t của K tiếp tục va chạm với 03 e m t khác gồm: e m t nhãn hiệu Honda, loại Vision, biển số 93C1-174.01 của ng Phạm Minh D; e m t nhãn hiệu Yamaha, loại E citer, biển số 93P2-006.49 của ng Trần Đức K1 và e m t nhãn hiệu Yamaha, loại Sirus, biển số 93M1-106.24 của chị La Thị H là c ng nhân của Công ty S2 iều khiển ang trên ường i làm về. Ngay sau khi t ng vào phía sau e của anh P ang iều khiển chở chi Q làm cả e và người ã ngã uống ường thì K dừng e, mở c a i uống dùng chân ạp nhiều cái vào người anh P thì ược mọi người gần ó ến can ngăn thì K mới dừng hành vi ánh anh P lại rồi lên e t rời khỏi hiện trường, ể mặc hậu quả, kh ng ưa vợ chồng K i cấp cứu. Anh P và chị Q ược mọi người ung quanh i cấp cứu ở Bệnh viện a khoa tỉnh B [BL 379 -385; 397 - 404; 408 - 413; 429 - 430].

Quá trình iều tra, K kh ng thừa nhận hành vi cố ý t ng vào e do anh P và những người khác iều khiển, mà nại ra lý do ã có uống nhiều bia, rượu nên kh ng nhận thức, kiểm soát ược hành vi của bản thân và kh ng quan sát ược phía trước dẫn ến e t do K iều khiển t ng vào xe mô tô do anh Lỷ Nhành P và các phương tiện lưu th ng ở phía trước gây tai nạn. Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả iều tra ác minh các mâu thuẫn, lời khai những người liên quan, lời khai người làm chứng; kết quả thu giữ và giám ịnh dữ liệu iện t là camera thu giữ ghi nhận là diễn biến, hình ảnh hành vi K iều khiển e t t ng trực tiếp vào u i xe mô tô do anh P ang iều khiển lưu th ng trên ường chở vợ phía sau là chị Q và hình ảnh, diễn biến sau khi e và người ã ngã uống ường nhưng K vẫn tiếp tục có hành vi dừng e, mở c a i uống dùng chân ạp nhiều cái vào người anh P thì ược mọi người gần ó ến can ngăn thì hành vi của K mới dừng lại cùng các chứng cứ, tài liệu khác ã thu thập, có căn cứ ác ịnh lời khai quanh co chối tội của K là kh ng có cơ sở.

Kết quả o nồng ộ cồn trong hơi thở ối với K tại thời iểm ảy ra vụ việc là 0,585 mg/l khí thở [BL 118].

Kết luận giám ịnh tổn thương cơ thể trên người sống số 429/ KLTTCT-TTPY ngày 15/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận thương tích của bị hại Lỷ Nhành Phúc [BL135-136]:

- Gãy thân ương bả vai trái ang còn cố ịnh bằng ai, hạn chế vận ộng khớp trái do au.

- Trầy da ầu trên – ngoài cánh tay trái kích thước (5 3)cm.

- 1/3 trên – sau cẳng tay trái có 02 vết trầy da (1,5 1,2)cm và (4x3,5)cm.

- Trầy mất da mặt trước gối phải kích thước (2,5 0,5)cm ang óng vảy.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lỷ Nhành P tại thời iểm giám ịnh là 13%.

Kết luận giám ịnh tổn thương cơ thể trên người sống số 430/KLTTCT-TTPY ngày 15/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận thương tích của bị hại Nguyễn Tố Q [BL 137-138]:

- Gãy sàng hốc mắt trái ã iều trị nội khoa.

- Bầm tím trán bên trái ường kính 02cm.

- Bầm tím hốc mắt trái, hốc mắt trái.

- Sẹo mi trên mắt trái kích thước (1 0,1)cm.

- Bầm tím 1/3 trên sau ùi phải ường kính (9 6)cm.

- Gãy ngành ngồi, ụ ngồi mu 2 bên có di lệch ang can ương.

- Vết trầy mất da trước dưới gối phải kích thước (3 1,5)cm.

- Trầy da trước trên gối trái kích thước (8 3)cm.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Tố Q tại thời iểm giám ịnh là 31%.

Kết luận giám ịnh số 1217/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh B, kết luận ối với 05 tập tin video trích uất từ camera trước cổng Công ty S1 và cổng Công ty S2 ghi lại diễn biến sự việc:

- Kh ng tìm thấy dấu hiệu cắt gh p, chỉnh s a nội dung trong 03 video g i giám ịnh.

- Trích uất ược 5004 hình ảnh thể hiện diễn biến vụ việc.

- Vận tốc e t do Vũ Hồng K iều khiển thời gian từ 06 giờ 34 phút 36 giây ến 06 giờ 34 phút 37 giây ngày 23/05/2023 (thời gian hiển thị trên màn hình) trước khi ảy ra va chạm giao th ng là 54 km/h ến 59 km/h.

Vận tốc e m t do anh Lỷ Nhành P iều khiển thời gian từ 06 giờ 34 phút 35 giây ến 06 giờ 34 phút 37 giây ngày 23/05/2023 (thời gian hiển thị trên màn hình) trước khi ảy ra va chạm giao th ng là 39 km/h ến 42 km/h.

Kết luận ịnh giá tài sản số 144/KL-HĐĐGTS ngày 27/12/2023 của Hội ồng ịnh giá tài sản Tố tụng Hình sự thành phố Đồng oài kết luận giá trị thiệt hại của các e m t bị K t ng trúng như sau: 01 e m t hiệu Honda Vision, biển số 93C1 - 174.01 là 1.930.000 ; 01 e m t hiệu Yamaha Sirius, biển số 93M1 - 106.24 là 2.160.000 ; 01 e m t hiệu NVX, biển số 60B6 - 498.46 là 5.400.000 ; 01 e m t hiệu Yamaha E iter, biển số 93P2 - 006.49 là 350.000 . Tổng giá trị thiệt hại là 9.840.000 [BL 195 - 199].

Văn bản số 305/SGTVT-VTPTNL ngày 27/5/2024 của Sở Giao th ng vận tải tỉnh B trả lời th ng tin cấp giấy ph p lái e cho Vũ Hồng K như sau: Khanh ược cấp GPLX số 700194012996, hạng B2 do Sở GTVT tỉnh B cấp ngày 26/12/2019, ngày hết hạn: 27/12/2029 [BL 258 - 259].

Việc thu giữ, lý vật chứng:

- Thu giữ của Vũ Hồng K 01 e t biển số, nhãn hiệu Kia Rondo, màu trắng, số máy: G4NAJH302365, e bị hư hỏng phần ầu; 01 giấy ph p lái e số 700194012996, hạng B2 và 01 Giấy chứng nhận kiểm ịnh an toàn kỹ thuật và bảo vệ m i trường số DA2160471, hạn ến 12/12/2023;

- Thu giữ của ng Lỷ N2 P 01 xe m t hiệu NVX, biển số 60B6 - 498.46; ông Phạm Minh D 01 e m t hiệu Honda Vision, biển số 93C1 - 174.01; bà La Thị H 01 e m t hiệu Yamaha Sirius, biển số 93M1 - 106.24; ông Trần Đức K1 01 e m t hiệu Yamaha E iter, biển số 93P2 -006.49. Cơ quan iều tra ã lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

- 01 thẻ nhớ micro SDHC chứa 04 oạn video ghi nhận diễn biến vụ việc tại cổng Công ty S1 ngày 05/12/2023 (đã niêm phong kèm theo hồ sơ vụ án).

- 01 thẻ nhớ micro SDHC chứa 01 oạn video ghi nhận diễn biến vụ việc tại cổng Công ty S2 ngày 05/12/2023 (đã niêm phong kèm theo hồ sơ vụ án).

Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSBP-P2 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Vũ Hồng K về tội “Giết người” theo iểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy ịnh tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Vũ Hồng K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng ã truy tố. Bị hại K ồng ý bồi thường cho bị hại Lỷ Nhành P và bị hại Nguyễn Tố Q chi phí iều trị thương tích, tổn thất tinh thần và chi phí s a chữa e m t bị hư hỏng với tổng số tiền 150.000.000 ồng và bị hại La Thị H số tiền chi phí s a chữa e m t hư hỏng theo kết luận ịnh giá tài sản 2.160.000 ồng.

- Bị hại Lỷ Nhành Phúc và Nguyễn Tố Q yêu cầu bị cáo Vũ Hồng K phải bồi thường chi phí iều trị thương tích, tổn thất tinh thần và chi phí s a chữa e m t bị hư hỏng với tổng số tiền 150.000.000 .

- Các bị hại Phạm Minh D và Trần Đức K1 kh ng yêu cầu bị cáo K phải bồi thường chi phí s a chữa e m t hư hỏng theo kết luận ịnh giá tài sản. Đồng thời, in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K

- Ngân hàng S3 (S) Chi nhánh B2 là bên cho bị cáo K và vợ là bà Vũ Thị L vay tiền vào năm 2019 ể mua e t biển số 93A – 182.89, vợ chồng K thế chấp e t cho Ngân hàng ể ảm bảo khoản vay trên. Ngân hàng yêu cầu ược nhận lại e t ể lý tài sản bảo ảm theo quy ịnh [BL 330 – 348, 395, 396, 405, 406]. Tại phiên toà, bị cáo K, bà L và Ngân hàng S3 (S) Chi nhánh B2 giao xe ô tô cho Ngân hàng ể thu hồi nợ. Trường hợp trả hết nợ cho ngân hàng thì số tiền còn lại dùng ể bồi thường cho các bị hại trong vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan iểm truy tố như Cáo trạng và ề nghị Hội ồng t :

Áp dụng iểm a, n khoản 1 Điều 123; iểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 3 Điều 57; Điều 15 Bộ luật Hình sự:

X phạt bị cáo Vũ Hồng K từ 09 năm ến 10 năm về tội “Giết người”.

Áp dụng các khoản 1 Điều 178; iểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

X phạt bị cáo Vũ Hồng K từ 01 năm ến 02 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là từ 10 năm ến 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 30/12/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội ồng t ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị hại Lỷ N và Nguyễn Tố Q và bị cáo số tiền 150.000.000 ồng, hiện tại vợ của bị cáo K là bà L ã bồi thường 10.000.000 ồng. Buộc bị cáo K tiếp tục bồi thường cho bị hại P và bị hại Q số tiền là 140.000.000 ồng; Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại La Thị H số tiền 2.160.000 ồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự ề nghị Hội ồng t tuyên:

Đối với 01 e t biển số, nhãn hiệu Kia Rondo, màu trắng, số máy: G4NAJH302365, e bị hư hỏng phần ầu - thu giữ của bị cáo Vũ Hồng K. Đề nghị HĐXX tuyên giao e t 93A-182.89 cho Ngân hàng S Chi nhánh B2 thu hồi lý nợ; số tiền còn lại sau khi ã thực hiện ong nghĩa vụ với Ngân hàng (nếu còn) thì sẽ ược tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại trong vụ án hình sự.

Đối với 01 giấy ph p lái e số 700194012996 hạng B2 và 01 Giấy chứng nhận kiểm ịnh an toàn kỹ thuật và bảo vệ m i trường số DA2160471, hạn ến 12/12/2023 – là giấy tờ tùy thân của bị cáo K2, ề nghị HĐXX tuyên trả cho bị cáo K;

Đối với các e m t hiệu NVX, biển số 60B6 - 498.46 thu giữ của ng Lỷ Nhành P; ông Phạm Minh D 01 e m t hiệu Honda Vision, biển số 93C1 - 174.01; bà La Thị H 01 e m t hiệu Yamaha Sirius, biển số 93M1 - 106.24; ông Trần Đức K1 01 e m t hiệu Yamaha E iter, biển số 93P2 -006.49. Kết quả ác minh là tài sản hợp pháp của ng P, ông D, bà H, ông K1. Cơ quan CSĐT ã ra Quyết ịnh lý vật chứng trả cho các chủ sở hữu hợp pháp nên kh ng ặt ra.

Đối với 01 thẻ nhớ micro SDHC chứa 04 oạn video ghi nhận diễn biến vụ việc tại cổng C ng ty Grand Gain ngày 05/12/2023 và 01 thẻ nhớ micro SDHC chứa 01 oạn video ghi nhận diễn biến vụ việc tại cổng Công ty S2 ngày 05/12/2023, ề nghị HĐXX lưu kèm hồ sơ vụ án.

Về án phí: Đề nghị Hội ồng t buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy ịnh.

Quan iểm người bào chữa: về tội danh tội thống nhất với quan iểm Viện kiểm sát, tuy nhiên do bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, gia ình có c ng với cách mạng, chỉ vì nhậu say và mâu thuẫn với bị hại, suy nghĩ n ng cạn nên phạm tội, bị cáo thừa nhận hành vi của mình, tác ộng gia ình khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo nu i ba con nhỏ, bị cáo là lao ộng chính, phạm tội chưa ạt, bị cáo kh ng có tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội ồng t tuyên bị cáo mức án từ 07 ến 08 năm tù về tội “giết người”, 01 ến 1,5 năm tù về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” cũng ủ răn e, giáo dục bị cáo.

Quan iểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại Lỷ N, Nguyễn Tố Q: Về phần trách nhiệm dân sự thống nhất quan iểm của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, bị cáo mới bồi thường 10.000.000 ồng, kh ng ủ ể áp dụng iểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà chỉ áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ã ược thẩm tra, t hỏi,tranh luận tại phiên tòa, Hội ồng t nhận thấy:

Về hành vi, quyết ịnh tố tụng của Cơ quan iều tra - C ng an tỉnh B, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình iều tra, truy tố ã thực hiện úng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy ịnh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình iều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại kh ng có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết ịnh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do ó, các hành vi, quyết ịnh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ã thực hiện ều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong suốt quá trình iều tra, truy tố bị cáo Vũ Hồng K kh ng thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Quá trình t sơ thẩm, sau khi nghe giải thích của Hội ồng t , bị cáo ã nhận thức ược hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. X t lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, ịa iểm, thực hiện hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác ã thu thập có tại hồ sơ vụ án ược t hỏi c ng khai tại phiên tòa. Do ó, Hội ồng t có ủ cơ sở kết luận:

Do kh ng ược thầu trong c ng ty nữa nên bị cáo muốn gặp Lỷ Nhành P ể trao ổi việc bị cáo ã ầu tư vật chất vào công ty T1 nhằm lấy lại ược số tiền nhất ịnh ể trang trải cuộc sống do vợ ã ly h n, một mình bị cáo phải nu i 03 con nhỏ nên hoàn cảnh rất khó khăn nhưng anh P kh ng gặp, kh ng nghe máy vì thế khoảng 17 giờ ngày 05/12/2023, sau khi ã uống rượu, bia, K iều khiển e t biển số 93A - 182.89 ến cổng Công ty S1 ể tìm gặp anh P và ch i bới nhưng ược bảo vệ công ty N3. Khi thấy anh P iều khiển e m t hiệu NVX, biển số 60B6 - 498.46 chở theo chị Nguyễn Tố Q ra khỏi cổng c ng ty thì K iều khiển e t uổi theo e của anh P. Khi ến oạn ường trước cổng Shyang Y, ịa chỉ: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì K cố ý iều khiển e t với tốc ộ từ 54km/h – 59km/h t ng thẳng vào phía sau e m t do anh P iều khiển làm anh P và chị Q ngã uống ường và ồng thời e t do K iều khiển còn tiếp tục t ng vào 03 e m t khác do ng Phạm Minh D, ông Trần Văn K3 và bà La Thị H iều khiển. Sau khi anh P với chị Q bị t ng làm cả người và e m t ngã uống ường thì K còn uống e i ến và dùng chân ạp nhiều cái vào người của anh P, ến khi ược nhiều người can ngăn thì K mới dừng hành vi rồi lên e t rời khỏi hiện trường, ể mặc hậu quả, kh ng ưa vợ chồng K i cấp cứu. Hậu quả là anh P bị thương tích 13%, chị Q bị thương tích 31%, thiệt hại cho cả 04 e m t là 9.840.000 ồng. Bị cáo K nhận thức ược việc dùng e t là nguồn nguy hiểm cao ộ tăng ga, tăng tốc âm vào bị hại là hành vi ặc biệt nguy hiểm, có thể dẫn ến vợ chồng anh P t vong và ồng thời bị cáo buộc phải nhận thức thời iểm này c ng nhân ang tan ca nên tại ngã tư dừng chờ èn ỏ rất ng người cũng như phương tiện lưu th ng qua lại. Vì thế, có thể gây ra hư hỏng nhiều tài sản là các phương tiện ang lưu th ng hoặc ang dừng ở khu vực trên, nhưng bị cáo K vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Việc anh P và chị Q kh ng chết là ngoài ý muốn của bị cáo K. Do ó, Hội ồng t

ủ căn cứ ể ác ịnh bị cáo K phạm tội “Giết người” ược quy ịnh tại iểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” ược quy ịnh tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

X t tính chất hành vi, hậu quả mà bị cáo Vũ Hồng K gây ra là ặc biệt nghiêm trọng, âm phạm ến sức khỏe, tính mạng của người bị hại là khách thể ặc biệt ược Luật hình sự ưu tiên bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng nghiêm trọng ến tình hình an ninh, trật tự tại ịa phương, gây hoang mang trong ời sống ã hội. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố ối với bị cáo là có căn cứ, úng người, úng tội, úng quy ịnh của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Kh ng

Tình tiết giảm nhẹ: X t thấy mặc dù trong suốt quá trình iều tra, truy tố bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên tại phiên toà bị cáo nhận thức ược hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nên ã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nhằm nhận ược sự khoan hồng của pháp luật, hơn nữa bị cáo còn tác ộng gia ình bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại số tiền số tiền 10.000.000 ồng; các bị hại K3 và D in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia ình bị cáo là người có c ng cách mạng là ây những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 s a ổi, bổ sung năm 2017 ể em t giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. X t thấy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy ịnh tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ ược quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, kh ng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, Hội ồng t thấy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự ể quyết ịnh một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt ối với bị cáo, giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho bị cáo so với mức án Viện kiểm sát ề nghị, ể tạo iều kiện cho bị cáo sớm hoà nhập với cộng ồng, trở thành c ng dân có ích cho ã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị hại Lỷ N và Nguyễn Tố Q yêu cầu Vũ Hồng K phải bồi thường chi phí iều trị thương tích, tổn thất tinh thần và chi phí s a chữa e m t bị hư hỏng với tổng số tiền 150.000.000 . Bị cáo K ồng ý bồi thường số tiền trên. Do gia ình bị cáo ã bồi thường ược 10.000.000 ồng nên bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường số tiền cho bị hại Lỷ Nhành P và Nguyễn Tố Q số tiền 140.000.000 ồng.

Buộc bị cáo bồi thường cho bà La Thị H chi phí s a chữa e m t bị hư hỏng theo kết luận ịnh giá là 2.160.000 ồng

Tại phiên tòa, bị hại Trần Đức K1 và Phạm Minh D kh ng yêu cầu bị cáo K bồi thường chi phí s a chữa e m t bị hư hỏng theo kết luận ịnh giá. X t thấy sự tự nguyện của các bị hại là kh ng vi phạm iều cấm của pháp luật và kh ng trái ạo ức ã hội phù hợp nên cần ghi nhận.

Về lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 e t biển số, nhãn hiệu Kia Rondo, màu trắng, số máy: G4NAJH302365, xe bị hư hỏng phần ầu - thu giữ của bị cáo Vũ Hồng K: Kết quả iều tra ác ịnh e mua năm 2019, thuộc sở hữu chung của K và vợ là Vũ Thị L, SN 1982 trong thời kỳ h n nhân; sau ó cả 02 cùng ký Hợp ồng tín dụng số 700/2019/HĐTD-CN/SHB131100 vay số tiền 460.000.000 và Hợp ồng thế chấp phương tiện vận tải số 700/2019/HĐTC-CN/SHB131100 ngày 19/12/2019 cho Ngân hàng S, thế chấp e t 93A-182.89 ể ảm bảo khoản trên (S ác ịnh tính ến ngày 06/5/2024 thì K và bà L còn nợ 223.740.169 tiền gốc và lãi) [BL 330-362]; ngày 28/02/2023, K và bà L ược TAND thành phố Đồng Xoài ra Quyết ịnh số 09, c ng nhận thận tình ly h n và sự thỏa thuận của các ương sự, trong ó có nội dung tự thỏa thuận về tài sản và nợ [BL 293-294], do ó e t t 93A-182.89 trên vẫn là tài sản chung và khoản nợ với Ngân hàng S vẫn là khoản nợ chung; cả bị cáo K, bà L và ại diện Ngân hàng S ều thống nhất ề nghị giao e t trên cho Ngân hàng ể lý khoản nợ của bà và bị cáo K theo Hợp ồng thế chấp tài sản ã ký. Trường hợp trả hết nợ cho ngân hàng số tiền còn lại bị cáo và bà L ồng ý ể bồi thường cho các bị hại trong vụ án. X t thấy ây là phương tiện mà bị cáo K s dụng ể thực hiện hành vi phạm tội thì phải tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, kết quả iều tra ác ịnh bà L kh ng có lỗi trong việc K s dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội; Ngân hàng S ang ược bảo ảm quyền và nghĩa vụ bằng Hợp ồng hợp pháp; các bị hại trong vụ án hình sự chưa ược bị cáo K bồi thường thiệt hại. Để ảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ 3 ngay tình và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự, căn cứ khoản 3 Điều 47 BLHS, iểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 3 Nghị quyết số 164/2014/QH15 ngày 18/11/2024, thí iểm lý vật chứng, tài sản trong quá trình iều tra, truy tố, t một số vụ việc, vụ án hình sự. T giao xe ô tô 93A-182.89 cho Ngân hàng S Chi nhánh B2 thu hồi lý nợ; số tiền còn lại sau khi ã thực hiện ong nghĩa vụ với Ngân hàng (nếu còn) thì sẽ ược tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại trong vụ án hình sự.

Lưu hồ sơ vụ án: 01 thẻ nhớ micro SDHC chứa 04 oạn video ghi nhận diễn biến vụ việc tại cổng C ng ty Grand Gain ngày 05/12/2023; 01 thẻ nhớ micro SDHC chứa 01 oạn video ghi nhận diễn biến vụ việc tại cổng Công ty S2 ngày 05/12/2023.

Trả bị cáo K: 01 giấy ph p lái e số 700194012996 hạng B2 và 01 Giấy chứng nhận kiểm ịnh an toàn kỹ thuật và bảo vệ m i trường số DA2160471, hạn ến 12/12/2023 – là giấy tờ tùy thân của bị cáo K

Đối với các bị hại Phạm Minh D, La Thị H và Trần Đức K1 bị e t do K iều khiển t ng trúng gây thương tích, do thương tích nhẹ, kh ng ảnh hưởng ến sức khỏe nên các bị hại ã từ chối giám ịnh thương tích, kh ng yêu cầu lý ối với K nên kh ng ề cập lý.

Quan iểm của ại diện Viện kiểm sát là phù hợp một phần với nhận ịnh của Hội ồng t nên ược chấp nhận.

Quan iểm của người bào chữa phù hợp với nhận ịnh của Hội ồng t

nên ược chấp nhận

Quan iểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Lỷ Nhành Phúc và Nguyễn Tố Q phù hợp một phần với nhận ịnh của Hội ồng t nên ược chấp nhận

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy ịnh của pháp luật

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy ịnh của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng K phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:

Áp dụng iểm a, n khoản 1 Điều 123; iểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57, Điều 50; Điều 38; Điều 15, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 ược s a ổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Vũ Hồng K 08 (tám) năm tù về tội “Giết người”.

Áp dụng các khoản 1 Điều 178; Điều 50; 38; iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 ược s a ổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Vũ Hồng K 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Quyết ịnh hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội ối với bị cáo Vũ Hồng K. Buộc bị cáo Vũ Hồng K phải chấp hành hình phạt chung cả hai tội là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Vũ Hồng K ối với bị hại Lỷ N, Nguyễn Tố Q và La Thị H

Buộc bị cáo Vũ Hồng K bồi thường số tiền cho bị hại Lỷ Nhành P và Nguyễn Tố Q số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu) ồng.

Buộc bị cáo Vũ Hồng K bồi thường cho bà La Thị H chi phí s a chữa e mô t bị hư hỏng theo kết luận ịnh giá là 2.160.000 (hai triệu một trăm ồng

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

4. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, tuyên:

- Giao xe ô tô 93A-182.89 cho Ngân hàng S Chi nhánh B2 thu hồi lý nợ; số tiền còn lại sau khi ã thực hiện ong nghĩa vụ với Ngân hàng (nếu còn) thì sẽ ược tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại trong vụ án hình sự.

- Trả cho bị cáo K: 01 giấy ph p lái e số 700194012996, hạng B2 và 01 Giấy chứng nhận kiểm ịnh an toàn kỹ thuật và bảo vệ m i trường số DA2160471, hạn ến 12/12/2023;

- Lưu hồ sơ vụ án: 01 thẻ nhớ micro SDHC chứa 04 oạn video ghi nhận diễn biến vụ việc tại cổng C ng ty Grand Gain ngày 05/12/2023; 01 thẻ nhớ micro SDHC chứa 01 oạn video ghi nhận diễn biến vụ việc tại cổng Công ty S2 ngày 05/12/2023.

5. Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và s dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Hồng K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn ồng) án phí hình sự sơ thẩm và 7.108.000 (bảy triệu một trăm linh tám nghìn) ồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận ược bản án hoặc bản án ược niêm yết theo quy ịnh.

Cỡ chữ