vanban.org

Bản án 08/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 08/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt Nguyễn Thanh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NTT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
KHU VỰC - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày 8 - 9 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nghiêm Khắc Cẩn Các hội thẩm nhân dân: Ông:

Lê Đình Phước Bà:

Phạm Thị Oanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Song Hào – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương - Kiểm sát viên. Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Tĩnh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Tĩnh, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 16/5/1971; nơi cư trú: Thôn A, xã T, tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình C (đã chết) và bà Dương Thị N; vợ con: Có vợ là Nguyễn Thị L và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam mà bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/6/2025 cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1975

Địa chỉ: Thôn A, xã T , tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: + Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1948 Địa chỉ: Thôn A, xã T , tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh)

Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt tại phiên tòa).

+ Chị Hồ Thị H, sinh năm: 1977

Địa chỉ: Thôn A, xã T , tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh)

Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt tại phiên tòa). + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975 Địa chỉ: Thôn A, xã T , tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh)

Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt tại phiên tòa).

.- Người làm chứng:

+ Anh Lê Thành L1, sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn E, xã T , tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn E, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) có mặt tại phiên tòa.

+ Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1974

Địa chỉ: Thôn A, xã T , tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn1, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) có mặt tại phiên tòa.

+ Anh Dương Đình T2, sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn A, xã T , tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn1, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) có mặt tại phiên tòa.

+ Anh Nguyễn Hồng Y, sinh năm 1983 Địa chỉ: Thôn A, xã T , tỉnh Hà Tĩnh (địa chỉ cũ thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 25/4/2025, anh Nguyễn Văn D ở thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã T, tỉnh Hà Tĩnh) bán một số cây gỗ tạp trong vườn cho anh Nguyễn Thanh L2. Trong số những cây gỗ tạp anh D bán cho anh L2, có một số cây trồng ở khu vực giáp ranh giữa vườn nhà anh D và vườn nhà ông Nguyễn Đình C (hiện ông C đã chết) do con đẻ là Nguyễn Thanh T quản lý. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, anh L2 gọi người mang cưa sắt đến khai thác cây gỗ mua của anh D thì có bà Nguyễn Thị M ở gần đó đến xem một lúc rồi về. Trên đường về bà M gặp Nguyễn Thanh T và kể lại việc có người cắt cây gỗ giáp ranh giữa vườn nhà anh D và vườn nhà ông C, rồi hỏi có phải Trà bán cây gỗ cho những người đó không. Nghe xong, T điều khiển xe mô tô HONDA Dream, BKS 72-755F3 đến nhà anh D thì thấy anh L2 đang dùng cưa cắt cây gỗ ở khu vực giáp ranh giữa vườn hai vườn. Cho rằng anh D bán cây trong vườn nhà ông C, nên Nguyễn Thanh T liền lấy một chiếc gậy gỗ dài khoảng 150cm, đường kính khoảng 04cm từ đống cây gỗ đã bị cắt trước đó, chạy đến đứng đối diện với anh D, cách khoảng 01m, T cầm gậy bằng hai tay, đánh mạnh một phát từ trên xuống vào người anh D. Bị đánh bất ngờ, anh D chỉ kịp đưa tay trái lên đỡ, thì bị đánh trúng vào cẳng tay trái và vùng đầu gây thương tích, chảy máu. Anh D bỏ chạy, Nguyễn Thanh T tiếp tục cầm gậy gỗ đuổi theo đánh, nhưng được mọi người can ngăn nên T dừng lại và vứt gậy gỗ tại hiện trường, rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Còn Nguyễn Văn D được mọi người đưa đi Trung tâm Y tế Đ1, tỉnh Hà Tĩnh điều trị, đến ngày 06/5/2025 thì ra viện.

Kết luận giám định số 114/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 23/5/2025 của Trung tâm P xác định thương tích anh Nguyễn Văn D như sau:

- Vùng đỉnh đầu sẹo vết thương kích thước 1,2cm x 0,3cm, sẹo phẳng, màu nâu, tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%;

- Mặt trước 1/3 giữa cẳng tay trái, vết phẫu thuật đang liền sẹo, kích thước 08cm x 01cm, tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 03%;

- 1/3 dưới mặt sau cẳng tay trái, vết phẫu thuật đang liền sẹo, kích thước 5,5cm x 01cm, tỉ lệ tổn thương cơ thể là 03%;

- Gãy 1/3 giữa hai xương cẳng tay trái đã phẫu thuật kết hợp xương, tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 13%.

Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 19%.

Thương tích do vật tày tác động vào gây nên.

* Vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT đã thu giữ và chuyển cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hà Tĩnh:

- 01 (một) chiếc gậy gỗ (chắc, cứng) dài 150cm, đường kính tại vị trí lớn nhất 04cm, tại vị trí nhỏ nhất 2,5cm tại hiện trường;

- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA Dream, màu trắng-tím, biển kiểm soát 72-755F3, số khung 0100M-0054064, số máy C100ME-0054064 đã qua sử dụng do Nguyễn Thanh T giao nộp.

* Về dân sự:

Bị cáo Nguyễn Thanh T đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 45.000.000 đồng, bao gồm tiền thuốc và chi phí điều trị. Hiện bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 03/CT-VKSKV5 ngày 11/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Tĩnh truy tố Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo chiếc xe mô tô; bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có mặt khai phù hợp với tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, không có thay đổi, bổ sung hay yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; đề nghị áp dụng Điểm đ Khoản 2 điều 134; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự xử phạt Nguyễn Nguyễn Thanh T từ 24 tháng đến 30 tháng tù, kể từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án; đề nghị tịch thu tiêu hủy chiếc gậy gỗ; đề nghị trả lại xe mô tô cho bị cáo.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì đưa ra tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hà Tĩnh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác cũng như tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 7 giờ 30 phút, ngày 25/4/2025 tại thôn A, xã T, tỉnh Hà Tĩnh, khi nghe tin anh Nguyễn Văn D đang bán cây gỗ tạp ở khu vực giáp ranh giữa vườn nhà anh D và vườn nhà cha đẻ của mình thì Nguyễn Thanh T liền điều khiển xe mô tô chạy đến nhà anh D. Đến nơi, thấy anh Nguyễn Thanh L2 đang dùng cưa cắt cây tại khu vực giáp ranh giữa hai vườn, Nguyễn Thanh T liền lấy 01 chiếc gậy gỗ, cầm bằng hai tay đánh 01 phát từ trên xuống dưới vào người anh D. Theo phản xạ, anh D đưa tay trái lên đỡ thì bị T đánh trúng vào tay trái và vùng đầu. Kết luận giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn D là 19%.

Hành vi của Nguyễn Thanh T gây thương tích cho anh Nguyễn Văn D là sau khi nghe tin và nhìn thấy có người đang cắt cây gỗ ở vùng giáp ranh giữa hai vườn mà không cần hỏi làm rõ sự việc để tự thương lượng giải quyết hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật là hành vi có tính chất côn đồ theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 134 BLHS. Chiếc gậy gỗ mà Nguyễn Thanh T dùng đánh anh D là chiếc gậy chắc, cứng là hung khí nguy hiểm theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 134 BLHS.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử kết luận Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ Luật hình sự.

Xét vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như hoàn cảnh gia đình của bị cáo.

Xét bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cãi về hành vi phạm tội của mình; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; có cha đẻ là Nguyễn Đình C (khi còn sống) là thương binh hạng 4/4 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Qua xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có cha đẻ là người có công với cách mạnh, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, xử phạt bị cáo 24 (hai mươi bốn) tháng tù như đề nghị của đại điện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ điều kiện răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về biện pháp tư pháp:

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) chiếc gậy gỗ (chắc, cứng) là công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA Dream, màu trắng-tím, biển kiểm soát 72-755F3 là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết xong. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Đ a, c Khoản 2, Đ a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Khoản 1 Điều 21 và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q. Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt Nguyễn Thanh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại giam thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chiếc gậy gỗ (chắc, cứng);

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA Dream, màu trắng-tím, biển kiểm soát 72-755F3;

Đặc điểm, tình trạng vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày18 tháng 8 năm 2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hà Tĩnh.

3. Về án phí: Buộc Nguyễn Thanh T nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ