vanban.org

Bản án 08/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bá P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Buộc bị cáo Huỳnh Bá P phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước. Buộc bị cáo Huỳnh Bá P phải nộp số tiền 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng sung vào Ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Bá P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bá P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 16/01/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sỹ Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đình Phúc.

2. Ông Nguyễn Lương Quân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 277/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Bá P, sinh ngày 11/10/1996 tại An Giang; nơi thường trú: khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở: A L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Phật; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1957 và bà Lương Bạch T, sinh năm 1956; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/8/2024 (có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng: Ông Trương Phúc H, sinh năm 2000; nơi thường trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: A L, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, Công an phường Bến Nghé, Quận 1 tiến hành kiểm tra hành chính Phòng 9802 (lầu 2), nhà số A L, phường B, Quận A. Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng có mặt Huỳnh Bá P, thu giữ trên bàn gỗ bên phải cửa phòng đi vào, đối diện giường ngủ 02 gói nylon đã qua sử dụng bên trong có ít bột trắng, 01 túi giấy màu đen bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu và 02 loa nghe nhạc màu xanh và màu đen. Thu trên nệm giường ngủ 01 hộp quẹt, 01 đĩa sứ, trên đĩa có 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn thành ống hít, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng. Trên sàn nhà, cạnh tủ quần áo 01 túi nylon màu đen, bên trong có nhiều gói nylon nhỏ chưa qua sử dụng. Trên sàn nhà, cuối góc phòng có 01 bộ đèn chiếu màu đen. Tổ công tác thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa Huỳnh Bá P về trụ sở Công an phường Bến Nghé, Quận 1 lập hồ sơ và chuyển đến Công an Quận 1 giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Kết luận giám dịnh số 13563/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 02 gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Bá P và hình dấu Công an phường Bến Nghé, Quận 1, bên trong có: Gói 01: bột màu trắng dính trong 02 gói nylon không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine dưới dạng vết. Gói 02: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,9902 gam loại Ketamine.

Tại cơ quan điều tra, Huỳnh Bá P khai nhận: P cùng gia đình đến thuê và ở tại nhà số A L, phường B, Quận A được khoảng 01 năm, P ở và sinh hoạt riêng tại phòng 9802 thuộc lầu 2 và bắt đầu sử dụng chất ma túy tổng hợp từ khoảng năm 2022. Thông qua bạn bè quen biết xã hội, P quen biết người tên B (khoảng tháng 9/2023, P đã mua ma túy của B được khoảng 3 - 4 lần, mỗi lần mua hai loại ma túy gồm thuốc lắc giá 200.000 đồng/01 viên, Ketamine giá 4.800.000 đồng/01 gói hộp 5 gam và đã sử dụng hết. Khi cần mua, P liên lạc với B thông qua Zalo của B (nick name “Bảo.0”, đăng ký số điện thoại 0938.945.524) để đặt mua ma túy, sau đó “B” sẽ mang ma túy qua giao cho P tại trước nhà số A L, Quận A hoặc gửi G giao qua, P trả tiền mua ma túy cho “Bảo” bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.

Khoảng cuối tháng 11/2023, do không có việc làm ổn định, cần tiền tiêu xài và muốn có ma túy để sử dụng nên P nảy sinh ý định mua ma túy của B để bán lại kiếm lời. Tại hẻm A L, Quận A, P quen biết Trương Phúc H (nhân viên tại quán địa chỉ A L, Quận A), biết H có sử dụng ma túy nên P đề nghị bán ma túy cho H để H sử dụng và H đồng ý. Ngày 28/11/2023, P đặt mua của B 05 viên thuốc lắc với giá 200.000 đồng/01 viên và hộp 5 gam ma túy Ketamine với giá 4.800.000 đồng, P mang ma túy Ketamine về phân chia lại thành 03 gói gồm 01 gói lớn để bán cho H và 02 gói nhỏ để P sử dụng.

Từ ngày 29/11/2023 đến ngày 03/12/2023, P đã 03 lần bán lại số ma túy này cho H cụ thể: lần đầu, vào khoảng 00 giờ ngày 29/11/2023, P bán cho H 02 viên thuốc lắc với giá 500.000 đồng và 01 gói ma túy Ketamine với giá 2.200.000 đồng, H đến trước nhà số A L, phường B, Quận A để nhận ma túy và chuyển khoản cho P 2.700.000 đồng để trả tiền mua ma túy. Lần thứ hai, vào khoảng 11 giờ ngày 02/12/2023, P bán cho H 03 viên thuốc lắc với giá 750.000 đồng và 01 gói ma túy Ketamine với giá 2.200.000 đồng, P mang ma túy đến trước nhà số A L nơi H làm việc giao trực tiếp cho H. Lần thứ ba, vào khoảng 00 giờ 15 ngày 03/12/2023, P bán cho H 01 gói ma túy Ketamine với giá 2.200.000 đồng, P mang ma túy đến giao trực tiếp cho H tại trước nhà số A L. Đến khoảng 20 giờ ngày 03/12/2023, H qua trước nhà trả cho P 5.150.000 đồng tiền mua ma túy hai lần còn nợ. P đã hưởng lợi được 1.800.000 đồng từ 03 lần bán ma túy cho H. Lời khai của Huỳnh Bá P phù hợp lời khai của Trương Phúc H, phù hợp kết quả sao kê giao dịch, biên bản đối chất, nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được

Đối với Trương Phúc H có hành vi mua ma túy thuốc lắc và Ketamine của Huỳnh Bá P để sử dụng, quá trình điều tra không thu giữ được ma túy của H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với 0,9902 gam ma túy loại Ketamine thu giữ tại nhà của Huỳnh Bá P là ma túy P cất giữ để sử dụng, nhung khối lượng ma túy không đủ để xử lý hình sự và P cũng không có tiền án, tiền sự liên quan đến các tội về ma túy trước đó nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vật chứng trong vụ án: 01 gói nylon niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Đại úy Phạm Huỳnh Minh T1, Lê Anh K, ghi vụ số 2647/23 G1 (13563) bên trong chứa 0,7187 gam ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định.

Thu giữ của Huỳnh Bá P: 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 loa màu xanh; 01 loa màu đen; 01 bộ đèn chiếu; 01 hộp quẹt; 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa; 01 túi nylon màu đen; 01 túi giấy; 01 gói nylon.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-Q1 ngày 24/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Bá P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Bá P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1. Bị cáo thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, không oan sai.

Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo cùng với các tài liệu chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Bá P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Bá P từ 08 năm đến 09 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng, đề nghị: Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 loa màu xanh; 01 loa màu đen; 01 bộ đèn chiếu và số tiền 12.000 đồng. Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong là ma túy còn lại sau giám định; 01 hộp quẹt; 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa; 01 túi nylon màu đen; 01 túi giấy; 01 gói nylon.

Bị cáo Huỳnh Bá P thống nhất với tội danh và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, không tranh luận.

Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Huỳnh Bá P thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Bá P không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.[2] Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Bá P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở xác định:

Ngày 28/11/2023, Huỳnh Bá P đã đặt mua của B 05 viên thuốc lắc với giá 200.000 đồng/01 viên và 01 hộp 5 gam ma túy Ketamine với giá 4.800.000 đồng, P mang ma túy Ketamine về phòng 9802 lầu 2 nhà số A L, Quận A phân chia thành 01 gói lớn để bán và 02 gói nhỏ để sử dụng. Từ ngày 29/11/2023 đến ngày 03/12/2023, P đã 03 lần bán lại số ma túy này cho Trương Phúc H. Cụ thể: vào lúc 00 giờ ngày 29/11/2023, tại trước nhà số A L, P bán cho H 02 viên thuốc lắc với giá 500.000 đồng và 01 gói ma túy Ketamine với giá 2.200.000 đồng; khoảng 11 giờ ngày 02/12/2023, tại trước nhà số A L nơi H làm việc, P bán cho H 03 viên thuốc lắc với giá 750.000 đồng và 01 gói ma túy Ketamine với giá 2.200.000 đồng; khoảng 00 giờ 15 ngày 03/12/2023, tại trước nhà số A L, P bán cho H 01 gói ma túy Ketamine với giá 2.200.000 đồng. H đã thanh toán tiền ma túy cho P bằng cách chuyển số tiền 2.700.000 đồng vào tài khoản của P và trả cho P 5.150.000 đồng tiền mặt, P đã hưởng lợi được 1.800.000 đồng từ 03 lần bán ma túy cho H.

Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, khi P đang ở Phòng 9802 (lầu 2), nhà số A L, phường B, Quận A thì bị Công an phường Bến Nghé kiểm tra hành chính. Thu giữ trên bàn gỗ bên phải cửa phòng đi vào, đối diện giường ngủ 02 gói nylon đã qua sử dụng bên trong có ít bột trắng, 01 túi giấy màu đen bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu. P khai là ma túy cất giữ để sử dụng.

Theo Kết luận giám dịnh số 13563/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 02 gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Bá P và hình dấu Công an phường Bến Nghé, Quận 1, bên trong có: Gói 01: bột màu trắng dính trong 02 gói nylon không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine dưới dạng vết. Gói 02: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,9902 gam loại Ketamine.

Như vậy, bị cáo Huỳnh Bá P phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên.

Đối với 0,9902 gam ma túy loại Ketamine thu giữ tại chỗ ở của Huỳnh Bá P là ma túy bị cáo cất giữ để sử dụng, do P không có tiền án, tiền sự liên quan đến các tội về ma túy và khối lượng ma túy không đủ để xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Từ nội dung đã nhận định từ mục [1] đến mục [3] có cơ sở xác định bị cáo Huỳnh Bá P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bản Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Bá P là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây mất trật tự trị an, sức khỏe con người, mà còn làm tha hóa thanh thiếu niên, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm minh nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo Huỳnh Bá P có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Bá P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để nộp vào Ngân sách nhà nước.

Về hành vi của các đối tượng liên quan:

Đối với Trương Phúc H có hành vi mua ma túy thuốc lắc và Ketamine của bị cáo P sử dụng, do không thu giữ được ma túy của H nên Cơ quan điều tra không xử lý H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ sở.

Đối với đối tượng tên “B” là người bán ma túy cho P, do P khai không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Bị cáo Huỳnh Bá P khai nhận đã bán ma túy cho Trần Phúc H1 được hưởng lợi 1.800.000 đồng. Đây là số tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo phải nộp lại để nộp vào ngân sách nhà nước.

- Đối với điện thoại di động hiệu Iphone; 01 loa màu xanh; 01 loa màu đen; 01 bộ đèn chiếu và số tiền 12.000 đồng thu giữ của Huỳnh Bá P. Bị cáo đã sử dụng điện thoại để liên lạc với “B”, H1 để mua, bán ma túy; sử dụng loa, đèn chiếu và tiền vào việc sử dụng ma túy. Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với gói niêm phong chứa ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và hộp quẹt, đĩa sứ, thẻ nhựa, túi nylon, túi giấy, gói nylon không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bá P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Bá P 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.

Buộc bị cáo Huỳnh Bá P phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

- Buộc bị cáo Huỳnh Bá P phải nộp số tiền 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, imei 1: 353971105086875, imei 2: 353971105008119; 01 loa màu xanh; 01 loa màu đen; 01 bộ đèn chiếu và số tiền 12.000 (mười hai nghìn) đồng.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Phạm Huỳnh Minh T1, Lê Anh K, ghi số vụ 2647/23 G1 (13563); 01 hộp quẹt; 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa; 01 túi nylon màu đen; 01 túi giấy; 01 gói nylon.

(Tất cả vật chứng trên theo phiếu nhập kho vật chứng số 265/2024/PNK-THAHS ngày 17/9/2024 của Cơ quan THAHS Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Huỳnh Bá P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021, bị cáo Huỳnh Bá P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật thi hành án dân sự) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ