- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đăng Thanh L và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Đăng Thanh L, Nguyễn Thị L1 phạm tội “Trộm cắp tai sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN PL THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngay 21-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN PL, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Lợi va ông Võ Văn Phú.
- Thư ký phiên tòa: Ba Ngô Thị Ngọc Trinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyên PL, thanh phố Huê.
- Đai diên Viên kiểm sát nhân dân huyên PL, thành phố Huê tham gia phiên tòa: Ông Hoang Trọng Thọ - Kiêm sát viên.
Ngay 21 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyên PL, thanh phố Huê xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngay 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyêt định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngay 04 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Trần Đăng Thanh L (tên gọi khác: Không); sinh ngay 06 tháng 3 năm 1995, tại thanh phố Huê; nơi cư trú: Phường HP, quận TH, thanh phố Huê; nghề nghiêp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Viêt Nam; căn cước công dân số: 046095009xxx, cấp ngay: 15/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hanh chính về trật tự xã hội; con ông: Trần Đăng P, sinh năm 1966 va ba Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970; gia đình có 3 anh chị em, bị cáo la con thứ nhất; có vợ la Đặng Thị Thảo, sinh năm 1992 (Đã ly hôn) va 01 người con (sinh năm 2013);
Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học văn hoá đên lớp 5 thì nghỉ học ở nha. Ngay 26/01/2024, bị Ủy ban nhân dân xã Quảng Thọ, huyên Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huê, nay la thanh phố Huê ra Quyêt định xử phạt vi phạm hanh chính số: 30/QĐ-XPHC với số tiền la 2.500.000 đồng về hanh vi trộm cắp tai sản (đã chấp hanh nộp phạt ngay 02/02/2024).
Tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự (Quyêt định xử phạt vi phạm hanh chính số: 30/QĐ-XPHC ngay 26/01/2024).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngay 23/10/2024 cho đên nay. Có mặt.
2. Nguyễn Thị L1 (tên gọi khác: Không); sinh ngay 08 tháng 02 năm 1970 tại thanh phố Huê; nơi cư trú: Phường HP, quận TH, thanh phố Huê; nghề nghiêp: Buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Viêt Nam; căn cước công dân số: 046170011290, cấp ngay: 15/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hanh chính về trật tự xã hội; con ông: Nguyễn Lem (đã chêt) va ba Đặng Thị Cháu (đã chêt); gia đình có 08 anh chị em, bị cáo la con thứ tám trong gia đình; có chồng la Trần Đăng P, sinh năm 1966 va 03 người con (lớn nhất sinh năm 1995 va nhỏ nhất sinh năm 2007);
Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học văn hoá đên lớp 1 thì nghỉ học ở nha. Ngay 19/7/2021, bị Công an xã Quảng Công, huyên Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huê, nay la thanh phố Huê ra Quyêt định xử phạt vi phạm hanh chính số: 2339/QĐ-XPHC với số tiền la 1.500.000 đồng về hanh vi trộm cắp tai sản (đã chấp hanh nộp phạt ngay 22/7/2021).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngay 23/10/2024 cho đên nay. Có mặt.
- Bị hại: Chị Đoan Thị Th, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Tổ 2, thôn 1, xã Hương L, huyên PL, thanh phố Huê; nghề nghiêp: Buôn bán. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Trần Đăng P, sinh năm: 1966; Nơi cư trú: Phường HP, quận TH, thanh phố Huê. Có mặt.
2. Ông Nguyễn Thanh Th1, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: TDP 8, thị trấn ED, huyên EH, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tai liêu có trong hồ sơ vụ án va diễn biên tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngay 19/10/2024, Trần Đăng Thanh L (sinh năm 1995; trú tại: Phường HP, quận TH, thanh phố Huê) rủ mẹ ruột la Nguyễn Thị L1 (sinh năm 1970; cùng trú với Trần Đăng Thanh L), đên khu vực chợ Khe Tre, thuộc thị trấn Khe Tre, huyên Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huê (nay la thị trấn Khe Tre, huyên PL, thanh phố Huê) đê trộm cắp tai sản, L1 đồng ý. L điều khiên xe mô tô biên số 47D1-01995 chở L1 ngồi phía sau. Đên khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngay, L va L1 đên chợ Khe Tre. L dừng xe mô tô trước cổng chợ va ngồi đợi, L1 đi bộ vao bên trong chợ đê tìm tai sản lấy trộm. Khi đi ngang qua cửa hang bán trái cây của chị Đoan Thị Th (sinh năm 1990; trú tại xã Hương L, huyên Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huê - nay la xã Hương L, huyên PL, thanh phố Huê), L1 phát hiên chị Th đê 01 túi xách phía trên ban phía sau cửa hang nên L1 tiêp cận chị Th hỏi mua trái cây. Lợi dụng lúc chị Th không đê ý, sơ hở, L1 lén lút mở túi xách lấy trộm số tiền 3.600.000 đồng (Ba triêu sáu trăm nghìn đồng).
Sau khi lấy trộm được tiền, L1 đi ra khu vực phía cổng chợ đê L dùng xe mô tô chở L1 trốn thoát. Sau đó, L1 chia cho L số tiền 200.000 đồng lấy trộm được; đưa cho chồng la ông Trần Đăng P, sinh năm 1966 số tiền 2.500.000 đồng; L1 sử dụng cá nhân số tiền 430.000 đồng; cất giữ lại số tiền 470.000 đồng. Cùng ngay, chị Đoan Thị Th phát hiên bị mất trộm tiền nên trình báo sự viêc đên Cơ quan Công an; qua truy xét xác định hanh vi trộm cắp tai sản nêu trên la của Trần Đăng Thanh L va Nguyễn Thị L1.
Ngay 23/10/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyên Nam Đông, nay la huyên PL tiên hanh khám xét nơi ở của Trần Đăng Thanh L, Nguyễn Thị L1 tại thôn Tiền Thanh, xã Hương Phong, thu giữ số tiền: 1.150.000 đồng do Nguyễn Thị L1 giao nộp.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 xe mô tô biên số 47D1-01995 hiêu Yamaha Sirius;
- Tạm giữ số tiền: 1.150.000 đồng (tiền Ngân hang Nha nước Viêt Nam) khi khám xét khẩn cấp;
- Nguyễn Thị L1 giao nộp số tiền 1.050.000 đồng (tiền Ngân hang Nha nước Viêt Nam);
- Ông Trần Đăng P giao nộp số tiền 1.400.000 đồng (tiền Ngân hang Nha nước Viêt Nam).
* Về xử lý vật chứng: Ngay 05/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyên Nam Đông, nay la huyên PL đã ra Quyêt định xử lý vật chứng trả lại số tiền: 3.600.000 đồng thu giữ trong vụ án cho bị hại la chị Đoan Thị Th va chị Th có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đối với xe mô tô biên số: 47D1-01995, quá trình điều tra xác định phương tiên đứng tên đăng ký la anh Nguyễn Thanh Th1 (sinh năm 1995; trú tại tổ dân phố 8, thị trấn Ea Drăng, huyên Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk). Trong quá trình sử dụng thì anh Th1 bán lại phương tiên cho người khác không quen biêt (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) va không lam thủ tục sang tên đổi chủ. Sau đó, Trần Đăng Thanh L mua lại xe mô tô biên số: 47D1-01995 từ người khác (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) đê sử dụng; viêc mua bán chỉ lam hợp đồng viêt tay, không có giấy tờ xe va không lam thủ tục sang tên đổi chủ nên cần tiêp tục được tạm giữ đê giải quyêt theo vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSNĐ ngay 14/01/2025 của Viên kiêm sát nhân dân huyên PL, thanh phố Huê truy tố các bị cáo Trần Đăng Thanh L va Nguyễn Thị L1 về tội “Trộm cắp tai sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diên Viên kiêm sát thực hanh quyền công tố phát biêu quan điêm luận tội giữ nguyên quyêt định truy tố va đề nghị:
- Về hình sự:
+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điêm i, s khoản 1 va khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đê xử phạt: Bị cáo Trần Đăng Thanh L từ 08 tháng đên 10 tháng tù.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điêm b, i, s khoản 1 va khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đê xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L1 từ 07 tháng đên 09 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo.
- Về trách nhiêm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đê tịch thu, sung công quỹ nha nước đối với chiêc xe mô tô biên số 47D1-01995 hiêu Yamaha Sirius.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toan bộ hanh vi phạm tội của mình, đồng ý với tội danh ma Viên kiêm sát đã truy tố theo như bản Cáo trạng va quan điêm luận tội.
Tại phiên tòa, bị hại chị Đoan Thị Th cung cấp lời khai như trong giai đoạn điều tra, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Nói lời sau cùng tại phiên tòa, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vao các tai liêu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyêt định, hanh vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố va xét xử các bị cáo, bị hại va người tham gia tố tụng khác không có ý kiên hay khiêu nại gì về quyêt định, hanh vi tố tụng của cơ quan tiên hanh tố tụng, người có thẩm quyền tiên hanh tố tụng. Các quyêt định, hanh vi tố tụng đã thực hiên đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định. Do đó, các quyêt định, hanh vi tố tụng của cơ quan tiên hanh tố tụng va người tiên hanh tố tụng la hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng trong vụ án la người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đên vụ án anh Nguyễn Thanh Th1 vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra, không gây trở ngại cho viêc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiên hanh xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét hanh vi của các bị cáo Trần Đăng Thanh L, Nguyễn Thị L1 thấy rằng: Lợi dụng sơ sở trong viêc quản lý tai sản của chủ sở hữu, khoảng 07 giờ 40 ngay 19/10/2024, tại khu vực chợ Khe Tre thuộc thị trấn Khe Tre, huyên PL, thanh phố Huê; Trần Đăng Thanh L, Nguyễn Thị L1 đã có hanh vi lén lút chiêm đoạt của chị Đoan Thị Th số tiền la 3.600.000 đồng (Ba triêu sáu trăm ngan đồng). Với hanh vi va hậu quả, các bị cáo Trần Đăng Thanh L, Nguyễn Thị L1 đã phạm vao tội “Trộm cắp tai sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viên kiêm sát nhân dân huyên PL, thanh phố Huê truy tố các bị cáo về tội danh va khung hình phạt nêu trên la có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về tính chất hanh vi phạm tội của các bị cáo: Hanh vi phạm tội của các bị cáo la nguy hiêm cho xã hội, đã trực tiêp xâm phạm đên quyền sở hữu tai sản của công dân được pháp luật bảo vê. Bản thân các bị cáo la người có năng lực trách nhiêm hình sự, nhận biêt được hanh vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ vụ lợi, muốn hưởng thụ trên thanh quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đê lén lút chiêm đoạt tai sản nhằm thu lợi bất chính, phục vụ nhu cầu bản thân, gây bức xúc, lo lắng cho nhân dân, ảnh hưởng xấu đên tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Về nhân thân, tình tiêt tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiêm hình sự:
- Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo Trần Đăng Thanh L có 01 tiền sự, ngay 26/01/2024, bị Ủy ban nhân dân xã Quảng Thọ, huyên Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huê, nay la thanh phố Huê ra Quyêt định xử phạt vi phạm hanh chính số: 30/QĐ-XPHC với số tiền la 2.500.000 đồng về hanh vi trộm cắp tai sản (đã chấp hanh nộp phạt ngay 02/02/2024). Bị cáo Nguyễn Thị L1 đã từng bị Công an xã Quảng Công, huyên Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huê, nay la thanh phố Huê ra Quyêt định xử phạt vi phạm hanh chính số: 2339/QĐ-XPHC, ngay 19/7/2021 với số tiền la 1.500.000 đồng về hanh vi trộm cắp tai sản (đã chấp hanh nộp phạt ngay 22/7/2021).
- Về tình tiêt tăng nặng: Các bị cáo không phạm vao tình tiêt tăng nặng trách nhiêm hình sự nao quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiêt giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thanh khẩn khai báo về hanh vi của mình; phạm tội lần đầu va thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiêm hình sự cho các bị cáo nên được áp dụng các tình tiêt giảm nhẹ trách nhiêm hình sự quy định tại điêm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thị L1 đã tự nguyên giao nộp lại một phần số tiền chiêm đoạt nên được áp dụng tình tiêt giảm nhẹ điêm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án, thấy rằng: Đây la vụ án đồng phạm, tính chất giản đơn. Trong đó, Trần Đăng Thanh L giữ vai trò la người khởi xướng, rủ rê, cảnh giới; còn Nguyễn Thị L1 giữ vai trò la người trực tiêp thực hiên trộm cắp nên các bị cáo phải chịu trách nhiêm hình sự tương ứng với hanh vi của mình.
Xét các căn cứ quyêt định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo có nhân thân xấu, mặc dù đã bị xử phạt hanh chính về hanh vi trộm cắp tai sản nhưng đê có tiền tiêu xai cá nhân, các bị cáo vẫn tiêp tục thực hiên hanh vi trộm cắp tai sản. Bản thân bị cáo Nguyễn Thị L1 la mẹ ruột của bị cáo Trần Đăng Thanh L, không can ngăn, khuyên bảo con của mình ma đồng ý cùng với bị cáo L đên khu vực chợ Khe Tre tìm tai sản trộm cắp la thê hiên sự liều lĩnh, thái độ xem thường pháp luật va quyền sở hữu tai sản của người khác được pháp luật bảo vê. Do đó, cần thiêt phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đê cải tạo, giáo dục bị cáo trở thanh công dân có ích cho xã hội; ngoai ra cũng nhằm tuyên truyền phổ biên phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi quyêt định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiêt giảm nhẹ trách nhiêm hình sự, giá trị tai sản chiêm đoạt không lớn đê áp dụng mức hình phạt cụ thê cho từng bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công viêc va thu nhập ổn định; các bị cáo đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung la phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với bị hại chị Đoan Thị Th khai báo bị mất trộm tổng số tiền 10.500.000 đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyên Nam Đông nay la huyên PL đã tiên hanh đối chất giữa chị Th va bị cáo L1 nhưng bị cáo chỉ khai nhận trộm cắp với số tiền la 3.600.000 đồng; bị cáo không thừa nhận, chị Th không cung cấp được tai liêu, chứng cứ va Cơ quan điều tra không chứng minh được nên không có cơ sở đê giải quyêt.
Đối với ông Trần Đăng P đã nhận số tiền 2.500.000 đồng từ vợ la bị cáo Nguyễn Thị L1, tuy nhiên ông P không biêt đây la tai sản do bị cáo L1 phạm tội ma có nên không có căn cứ xem xét xử lý ông Trần Đăng P về hanh vi tiêu thụ tai sản do người khác phạm tội ma có la có căn cứ.
Về trách nhiêm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyêt.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biên số: 47D1-01995, quá trình điều tra xác định phương tiên đứng tên đăng ký la anh Nguyễn Thanh Th1, sinh năm 1995; trú tại: Tổ dân phố 8, thị trấn Ea Drăng, huyên Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình sử dụng thì anh Th1 bán lại phương tiên cho người khác không quen biêt (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) va không lam thủ tục sang tên đổi chủ. Sau đó, Trần Đăng Thanh L mua lại xe mô tô biên số: 47D1-01995 từ người khác (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) đê sử dụng; viêc mua bán chỉ lam hợp đồng viêt tay, không có giấy tờ xe va không lam thủ tục sang tên đổi chủ. Xét thấy, đây la tai sản thuộc sở hữu của bị cáo L sử dụng lam phương tiên phạm tội nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự va Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách nha nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Đăng Thanh L, Nguyễn Thị L1 phạm tội “Trộm cắp tai sản”.
2. Về trách nhiêm hình sự:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điêm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Đăng Thanh L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hanh hình phạt tù tình từ ngay bắt tạm giữ, tạm giam ngay 23/10/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điêm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hanh hình phạt tù tình từ ngay bắt tạm giữ, tạm giam ngay 23/10/2024.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung la phạt tiền đối với các bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách nha nước: 01 chiêc xe mô tô hiêu Yamaha Sirius, biên số 47D-019.95; mau đỏ đen (xe có 01 gương chiêu hậu; mang xe bên trái va đuôi sau xe bị bê; xe cũ, đã qua sử dụng, không kiêm tra chất lượng bên trong xe).
Vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản (STT 14) ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện PL và Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyêt 326/2016/UBTVQH14 ngay 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý va sử dụng án phí va lê phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Đăng Thanh L, Nguyễn Thị L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan đên vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án nay trong thời hạn 15 ngay, kê từ ngay tuyên án. Đối với người có quyền lợi va nghĩa vụ liên quan đên vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án nay trong thời hạn 15 ngay, kê từ ngay nhận được bản án hoặc ngay bản án được niêm yêt theo quy định.
Trường hợp bản án nay được thi hanh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hanh án dân sự thì người được thi hanh án dân sự, người phải thi hanh án dân sự có quyền thoả Th1 thi hanh án, quyền yêu cầu thi hanh án, tự nguyên thi hanh án hoặc bị cưỡng chê thi hanh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b va 9 Luật Thi hanh án dân sự; thời hiêu thi hanh án được thực hiên theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hanh án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thanh phố Huê; - VKSND thanh phố Huê; - Sở Tư pháp thanh phố Huê; - VKSND huyên PL; - Trại tạm giam Công an thanh phố Huê; - Nha tạm giữ Công an huyên PL; - CQĐT Công an huyên PL; - Chi cục THADS huyên PL; - Bị cáo; bị hại; người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án; án văn. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Phan Văn Lợi Võ Văn Phú | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mạnh Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Văn Mạnh |