- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh L1 phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày: 21/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Mạnh Dũng;
2. Bà Hoàng Thị Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký TAND huyện Chư Păh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh - Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lương Minh Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Đinh L1, sinh ngày 15/8/2007 tại Gia Lai. Trú tại: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông (không rõ) và bà Đinh L, sinh năm 1987. Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Tạm giữ: Không; Tạm giam: Từ ngày 01/11/2024 đến nay, tại nhà tạm giữ Công an huyện C. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo Đinh L1: Ông Trịnh Xuân T – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G.
Địa chỉ: Số D L, Tp ., tỉnh Gia Lai. Có mặt
Bị hại: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1999; trú tại: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người làm chứng:
1. Rơ Châm V, sinh ngày 15/02/2007; trú tại: Làng O, xã Đ, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của Rơ Châm V: Ông Rơ Châm H1, sinh năm 2002 (anh ruột của Rơ Châm V); trú tại: Làng O, xã Đ, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
2. Rơ Châm H2, sinh ngày 01/3/2007; trú tại: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt
Người đại diện hợp pháp của Rơ Châm H2: Ông Rơ Châm H3 (bố đẻ của Rơ Châm H2); trú tại: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt
3. Rơ Châm H4, sinh ngày 05/4/2006; trú tại: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt
Người phiên dịch: Bà Rơ Châm U, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 08/9/2024, Đinh L1 một mình đi chơi trong làng T, xã I, huyện C. Khi đi qua nhà anh Phạm Văn H (sinh năm 1999, trú tại Làng T, xã I, huyện C) thì Đinh L1 nhìn vào nhà anh H thấy không có ai ở nhà, nên L1 nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. Sau đó L1 lén lút đi vòng ra bên hông nhà rồi trèo qua tường rào, thấy cửa bên hông nhà không đóng, L1 đi vào bên trong nhà lục tìm tài sản. Khi lục trong tủ quần áo thì L1 phát hiện có một sấp tiền mặt gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng để trong túi áo khoác màu đen treo trong tủ, L1 lấy số tiền đó bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài theo lối đột nhập ban đầu. Sau đó L1 đi đến nhà bạn là Rơ Châm H4 (sinh năm 2007, trú tại làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) để chơi, tại đây còn có Rơ Châm H2 (sinh năm 2007, trú làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) cũng đang ngồi chơi. Lúc này, L1 lấy số tiền mới trộm cắp được ra đếm được 27.000.000 đồng. Thấy L1 có nhiều tiền thì H4 và H2 hỏi nhưng L1 nói số tiền đó là của L1, rồi L1 một mình đi đến thành phố K để chơi, sau đó về lại nhà H4 ngủ nhờ qua đêm. Sáng ngày 19/9/2024, L1 rủ Rơ Châm V (sinh năm 2007, trú làng O, xã Đ, huyện C, tỉnh Gia Lai) đi đến thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An chơi rồi tiêu xài hết số tiền mà L1 đã trộm cắp được tại nhà anh H. Đến ngày 22/9/2024, L1 về nhà thì biết anh H đã trình báo sự việc. Đinh Lưng sợ nên đã đến Công an xã I tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định độ tuổi trên cơ thể người sống số 2154/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đ nẵng kết luận độ tuổi của Đinh L1 như sau:
Căn cứ sự phát triển thể chất, sự cốt hóa các xương tay, chân và khung chậu, khám chuyên khoa và kết quả cận lâm sàng, xác định độ tuổi của Đinh L1 tại thời điểm giám định (tháng 9/2024) là: từ 18 năm đến 19 năm. Độ tuổi của Đinh L1 tại thời điểm ngày 08/9/2024 là từ 18 năm đến 19 năm.
Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 24 tháng 12 năm 2024, Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Đinh L1 về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, r, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh L1 từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc, Đinh L1 đã bồi thường cho anh Phạm Văn H số tiền 7.000.000 đồng. Anh H yêu cầu Đinh L1 phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 20.000.000 đồng. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự. Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền này cho anh H.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đinh L1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thống nhất bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đinh L1: Thống nhất với vị đại diện Viện kiển sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là người đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn để cho bị cáo mức án thấp nhấp mà vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị và xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đinh L1 khai nhận: Vì muốn có tiền tiêu xài, nên vào khoảng 20 giờ ngày 08/9/2024, lợi dụng chủ sở hữu không có ở nhà, bị cáo đã đột nhập vào nhà anh Phạm Văn H ở làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai lấy trộm số tiền 27.000.000 đồng của anh H. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác Đinh L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều bị pháp luật trừng trị, bị cáo Đinh L1 đã cố ý thực hiện tội phạm, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân và trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự thú; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường một phần cho bị hại được số tiền 7.000.000 đồng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, r, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản gì, nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Không
Về dân sự: Anh Phạm Văn H yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 20.000.000 đồng. Xét yêu cầu này là chính đáng, nên buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh H số tiền này.
Về án phí: Buộc bị cáo Đinh L1 phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đinh L1 về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở, cần chấp nhận.
Tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đinh L1 phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, r, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đinh L1 03 (ba) tháng 20 (hai mươi) ngày tù. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam (Từ ngày 01/11/2024 đến ngày 21/02/2025). Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Đinh L1 tại phiên tòa.
- Về dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự. Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Đinh L1 phải tiếp tục bồi thường cho anh Phạm Văn H số tiền 20.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
Miễn án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Lưng .
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Chư Păh; - Công an huyện Chư Păh; - THADS huyện Chư Păh; - Bị cáo + người TGTT; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hòa |