vanban.org

Bản án 08/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Văn Chí C.

2- Về con chung: Giao con chung là Văn Thị Như H, sinh ngày 14/6/2014, giới tính nữ (hiện đang chung sống cùng chị T) cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh C có quyền tới lui chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, con chung giữa chị Phạm Thị The với anh Văn Chí Cường"
  • Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Văn Chí C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 08/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 14-02-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trường Thống

2. Bà Quách Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐ-TA ngày 15/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp V, xã V, huyện V tỉnh Kiên Giang; có đơn xin vắng mặt

- Bị đơn: Anh Văn Chí C, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/9/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C trên cơ sở được hai bên gia đình mai mối, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống đầm ấm được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm với nhau dẫn đến không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, bất hòa, mặc dù đã được hai bên hàn gắn nhưng không thành. Hiện vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau. Xét thấy, vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau, cuộc sống không hòa hợp, tình cảm vợ chồng không còn, làm cho hôn nhân làm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là Văn Thị Như H, sinh ngày 14/6/2014, giới tính nữ (hiện đang sống cùng chị T). Chị T yêu cầu giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng và yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các con đủ 18 tháng tuổi.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Văn Chí C vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chi Phạm Thị T đối với anh Văn Chí C.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Văn Thị Như H, sinh ngày 14/6/2014, giới tính nữ cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con tại đơn khởi kiện chị T yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung là Văn Thị Như H là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tháng tuổi. Theo kết quả xác minh thì anh C có mức thu nhập mỗi tháng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng. Anh C được quyền tới lui, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị T có đơn xin vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét vắng mặt chị T.

Bị đơn anh Văn Chí C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do chính đáng. Vì vậy, căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

Về quan hệ tranh chấp: Chị Phạm Thị T yêu cầu xin ly hôn, giải quyết con chung, cấp dưỡng nuôi con nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C trên cơ sở yêu thương nhau tự nguyện kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/3/2013 theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải dẫn đến mâu thuẫn kéo dài và không còn tình cảm mặc dù đã được hai bên hàn gắn nhưng không thành, hiện anh chị đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị The .

Về quan hệ con chung: Chị T và anh C có 01 con chung là Văn Thị Như H, sinh ngày 14/6/2014, giới tính nữ (hiện con chung đang sống cùng chị T). Xét thấy, hiện con chung đang sống chung cùng chị T cuộc sống được đảm bảo, nguyện vọng của cháu H được sống với chị T. Vì vậy, xét về lợi ích mọi mặt và để đảm bảo cuộc sống cho con chung nên căn cứ Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình nên giao con chung là Văn Thị Như H, sinh ngày 14/6/2014, giới tính nữ cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh C có quyền tới lui chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện chị T yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung là Văn Thị Như H, sinh ngày 14/6/2014 là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con đủ 18 tháng tuổi.

Xét thấy, anh C là cha ruột của cháu N H nhưng do anh C không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Việc chị T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại biên bản xác minh ngày 25/12/2024 xác định anh C hiện đang là tài xế mức thu nhập từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/tháng. Căn cứ Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng là phù hợp, ngày cấp dưỡng được xác định vào ngày 15 hàng tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 15/3/2025 cho đến khi con đủ 18 tháng tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí xin ly hôn: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002354 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Văn Chí C.

2- Về con chung: Giao con chung là Văn Thị Như H, sinh ngày 14/6/2014, giới tính nữ (hiện đang chung sống cùng chị T) cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh C có quyền tới lui chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000, ngày cấp dưỡng được ấn định vào ngày 15 hàng tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 15/3/2025 cho đến khi các con đủ 18 tháng tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án dân sự nếu anh C không trả số tiền cấp dưỡng trên thì còn phải trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự 2015.

3- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu về tài sản chung, xác định không có nợ chung nên không xem xét.

4- Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002354 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Là 300.000 đồng, anh Văn Chí C phải chịu toàn bộ án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.

5- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự chị T, anh C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ