- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Đ kiện Nguyễn Phan Nhật T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 7 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đình Nguyên.
2. Ông Trần Hoàng Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 359/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: T 1, T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã N, tỉnh Khánh Hòa), có đơn xin vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phan Nhật T, sinh năm 1985.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 25, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa (cũ là Khu phố 5, phường M, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận), có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/6/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà và ông Nguyễn Phan Nhật T đến với nhau hoàn toàn tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức đám cưới hỏi, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tri Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận (nay là Ủy ban nhân dân xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa) năm 2013. Sau khi kết hôn bà và ông T chung sống tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã N, tỉnh Khánh Hòa). Quá trình chung sống vợ chồng ít hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không có tiếng nói chung. Từ cuối năm 2024 đến nay vợ chồng bà không còn sống chung, không ai quan tâm đến ai. Do mâu thuẫn kéo dài và không còn sống chung cùng nhau nên bà đề nghị Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 12/10/2013 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 30/4/2017. Ly hôn, bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con, bà không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Bà làm công nhân may thu nhập khoảng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/tháng nên đủ điều kiện để nuôi 02 con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Phan Nhật T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Đ đến với nhau hoàn toàn tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức đám cưới hỏi, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tri Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận (nay là Ủy ban nhân dân xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa) năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã N, tỉnh Khánh Hòa). Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, cho đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, thường xuyên cãi vã to tiếng. Từ năm 2023 đến nay, vợ chồng ông không còn sống chung cùng nhau, không ai quan tâm hỏi han nhau. Nay ông không còn tình cảm với bà Đ nên đồng ý ly hôn với bà Đ.
Về con chung: Ông và bà Đ có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 12/10/2013 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 30/4/2017. Ly hôn ông đồng ý giao 02 con cho bà Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS). Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Phan Nhật T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của BLTTDS. Bị đơn ở phường Đ, tỉnh Khánh Hòa (cũ là phường M, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về tranh chấp hôn nhân: Bà Đ và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Tri Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 77 ngày 30/9/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Đ trình bày: Từ năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống khiến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Từ cuối năm 2024 đến nay bà và ông T không còn sống chung, bà không còn tình cảm với ông T. Ông T biết bà Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông T đồng ý ly hôn với bà Đ nhưng vắng mặt.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Đ và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ.
Về con chung: Xét yêu cầu được nuôi con của bà Đ, thấy rằng: Từ khi bà và ông T không còn sống chung thì cháu Nguyễn Ngọc Gia H và Nguyễn Gia K do bà Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Các cháu H và K có nguyện vọng sống với mẹ, ông T cũng đồng ý giao 02 con chung cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Đ làm công nhân may thu nhập khoảng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/tháng nên đủ điều kiện để nuôi con. Do vậy, Hội đồng xét xử giao các cháu H và K cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tài sản chung và nợ chung: Bà Đ và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang
- Tháp Chàm là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bà Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Phan Nhật T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 12/10/2013 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 30/4/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con. Ông Nguyễn Phan Nhật T không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do bà Đ không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001380 ngày 13/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa). bà Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND khu vực 5 - Khánh Hòa; - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; - UBND xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa ( GCNKH số: 77, ngày 30/9/2013); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Diệu |