vanban.org

Bản án 08/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị P đối với bị đơn anh Lò Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị P được ly hôn anh Lò Văn T. Về con chung: Đã thành niên và có khả năng lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị P + Lò Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị P đối với bị đơn anh Lò Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08-8-2025.
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Thắng và bà Lê Thị Thanh Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 83/2025/TLST-HN&GĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị P; sinh năm 1980; địa chỉ: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là bản H, xã M, tỉnh Điện Biên) - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lò Thị P: Bà Lê Thị Thúy A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ - Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lò Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là bản H, xã M, tỉnh Điện Biên) - Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2025 và biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Lò Thị Phương trình B:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị P và anh Lò Văn T chung sống như vợ chồng tư năm 1991 đến ngày 22/7/2014 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Điện Biên), kết hôn tự nguyện không ai ép buộc. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống không có tiếng nói chung. Anh Lò Văn T nhiều lần đánh chị Lò Thị P, tuy còn chung sống trong nhưng anh chị không quan hệ vợ chồng từ năm 2019 cho đến nay, từ khi sống ly thân anh chị không còn quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, chị Lò Thị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lò Văn T.

Về con chung: Chị Lò Thị P và anh Lò Văn T có 04 người con chung. Cháu Lò Thị T1, sinh ngày 26/9/1992; cháu Lò Thị T2, sinh ngày 04/02/2003; cháu Lò Thị N, sinh ngày 04/02/2003 và cháu Lò Văn H, sinh ngày 01/01/2004. Hiện tại các cháu đã thành niên và có khả năng lao động không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lò Thị P và anh Lò Văn T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 08/5/2025 thụ lý vụ án, đến ngày 12/5/2025 Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của đương sự về tình trạng hôn nhân của anh chị, qua xác minh cho thấy: Sau khi kết hôn chị Lò Thị P và anh Lò Văn T sinh sống tại bản H, xã M, tỉnh Điện Biên, sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân. Anh Lò Văn T đi làm thuê tỉnh thoảng mới về, cụ thể làm việc gì ở đâu chính quyền địa phương không nắm rõ, không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Lò Văn T. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết các văn bản tố tụng anh Lò Văn T vẫn không có mặt nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Ngày 12/6/2025, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự nhưng anh Lò Văn T vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về sự vắng mặt không có lý do của anh Lò Văn T và tiến hành niêm yết thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật. Ngày 12/6/2025, chị Lò Thị P đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 22/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên mở phiên tòa xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2025 và đã tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật, anh Lò Văn T vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa theo luật định.

Tại phiên tòa ngày 08/8/2025, chị Lò Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện và bản tự khai. Anh Lò Văn T vắng mặt lần 2 không có lý do.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày: Chị Lò Thị P và anh Lò Văn T chung sống như vợ chồng tư năm 1991 đến ngày 22/7/2014 đăng ký kết hôn tại xã M, tỉnh Điện Biên, kết hôn tự nguyện không ai ép buộc. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống không có tiếng nói chung. Anh Lò Văn T nhiều lần đánh chị Lò Thị P, tuy còn chung sống trong nhưng anh chị không quan hệ vợ chồng từ năm 2019 cho đến nay, Mâu thuẫn của Lò Thị P và anh Lò Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Các con của anh chị đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị Lò Thị P.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thấy rằng. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án, đảm bảo việc giải quyết vụ án kịp thời, đúng pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên không có yêu cầu, kiến nghị gì. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị nguyên đơn. Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và địa chỉ của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các biện pháp xác minh sự vắng mặt của bị đơn nơi cư trú, tình trạng hôn nhân, tống đạt và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Lò Văn T, nhưng anh Lò Văn T vẫn không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, anh Lò Văn T đã tự từ bỏ các quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ngày 12/6/2025 chị Lò Thị P có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Lò Thị P, được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt chị Lò Thị P và anh Lò Văn T tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân:

Về kết hôn: Chị Lò Thị P và anh Lò Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 22/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Điện Biên). Căn cứ Trích lục kết hôn ngày 24/4/2025 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Điện Biên) cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị P và anh Lò Văn T là hôn nhân hợp pháp.

Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Chị Lò Thị P khai nguyên nhân mâu thuẫn gia đình do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn và anh chị đã sống ly thân.

Về tình trạng hôn nhân: Lời khai của chị Lò Thị P về tình trạng hôn nhân là có căn cứ phù hợp với các biên bản xác minh tình trạng hôn nhân, thực tế anh chị đã sống ly thân và trong thời gian sống ly thân không ai quan tâm tới ai. Hội đồng xét xử nhận định chị Lò Thị P và anh Lò Văn T không còn tình cảm vợ chồng; không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị P.

Về con chung: Chị Lò Thị P và anh Lò Văn T có 04 người con chung. Hiện tại các cháu đã thành niên và có khả năng lao động không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lò Thị P và anh Lò Văn T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Phát biểu của kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Xét thấy đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Lò Thị P là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí: Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Căn cứ vào Điều 9, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 9, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị P đối với bị đơn anh Lò Văn T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị P được ly hôn anh Lò Văn T.

- Về con chung: Đã thành niên và có khả năng lao động.

2. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc ngày niêm yết bản án sơ thẩm tại địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ