- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIAG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày 21 tháng 7 năm 2025 V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thường và ông Phan Minh Quốc.
- Thư ký phiên tòa: ông Lâm Quang Trực – Là Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang: bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2025/TLST-HNGĐ ngày 23/4/2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/7/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: ông Lê Văn T, sinh năm 1980
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn bà M có mặt. Bị đơn ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M bày:
Sau một thời gian tìm hiểu, bà với ông Lê Văn T quyết định chung sống với nhau vào năm 2002, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (nay là xã Đ, tỉnh An Giang). Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình bà M. Quá trình chung sống thời gian đầu chung sống cũng hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2004 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông T đánh bài, đánh số đề chính vì vậy vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mỗi lần cãi nhau là ông T đánh đập bà. Có lần ba ruột bà vô can ngăn thì ông T đánh luôn cả ba bà. Ngoài ra ông T cũng không chăm lo làm ăn, mọi việc trong gia đình và con cái đều do bà và và gia đình bà lo liệu. Đến tháng 10/2013, vợ chồng cãi nhau nên ông T tiếp tục đánh bà, do sợ ba buồn nên bà rủ ông T đi làm ăn nhưng ông T không chịu đi nên bà quyết định đi một mình (bà lên Bình Dương làm công nhân), ông T bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, bà với ông T chính thức sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Do thời gian ly thân đã lâu, tình cảm không còn nên bà M yêu cầu giải quyết như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Tuyết M xin được ly hôn với ông Lê Văn T.
+ Về quan hệ con chung: 02 con chung tên Lê Thị Cẩm T sinh ngày 23/3/2003 (đã trưởng thành) và Lê Thành Q sinh ngày 02/12/2009. Sau ly hôn bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn ông Lê Văn T: Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông T nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay ông T vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của bà M.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên:
Về hôn nhân: chị Trần Thị Tuyết M được ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung: giao cháu Lê Thành Q sinh ngày 02/12/2009 cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.
Về án phí: bà M phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M xin được ly hôn với ông Lê Văn T; bị đơn ông Lê Văn T có đăng ký nơi thường trú tại ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về “Ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: bị đơn ông Lê Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Trần Thị Tuyết M và ông Lê Văn T chung sống với nhau từ năm 2002, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (nay là xã Định Mỹ, tỉnh An Giang), được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 15/5/2003. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Tuyết M, thấy: trong quá trình sống chung vợ giữa bà M và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do ông T chơi đánh bài và số đề, ngoài ra ông T cũng đánh đập chị Mai, không chăm lo cho gia đình. Do không thể tiếp tục chung sống được nữa nên bà M đã quyết định sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Quá trình sống ly thân vợ chồng có gặp nhau, ông T cũng có năn nỉ hàn gắn tình cảm nhưng bà M không đồng ý quay lại sống chung. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng ông T vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà M để xây dựng hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà M và ông T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.
Về quan hệ con chung, thấy: theo tài liệu, chứng cứ bà M cung cấp thì bà M và ông T có 02 con chung Lê Thị Cẩm T sinh ngày 23/3/2003 (đã trưởng thành) và Lê Thành Q sinh ngày 02/12/2009. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Thành Q, không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân bà M là người trực tiếp nuôi con chung, quá trình giải quyết vụ án ông T không có văn bản nào có yêu cầu tranh chấp về nuôi con chung. Tại Biên bản lấy ý kiến ngày 21/5/2025, cháu Thành Q cũng mong muốn được tiếp tục sống chung vơ mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Căn cứ vào Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung Lê Thành Q cho bà M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà M không yêu cầu .
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang là có căn cứ.
Về án phí: bà M là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 khoản 2 Điều 227 và khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết M.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Tuyết M được ly hôn với ông Lê Văn T.
- Về quan hệ con chung:
Giao con chung Lê Thành Q sinh ngày 02/12/2009 cho bà Trần Thị Tuyết M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Ông Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Trần Thị Tuyết M và ông Lê Văn T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí: bà Trần Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021895 ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – An Giang) nên đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo:
Bà Lê Thị Tuyết M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Lê Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 10; - Phòng THADS khu vực 10; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |