- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hoàng Thị C ly hôn với Ngô Viết Ph"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Hoàng Thị C ly hôn với ông Ngô Viết P.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 5 - 2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Vinh
Bà Trần Thị Thúy Sâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tường Vy - Thẩm tra viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Hương Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST – HNGĐ ngày 06/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Hoàng Thị C, sinh năm 1983, địa chỉ: thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Bị đơn: ông Ngô Viết P, sinh năm 1978, địa chỉ: thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 14 tháng 3 năm 2025 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hoàng Thị C trình bày:
Bà Hoàng Thị C và ông Ngô Viết P kết hôn vào năm 2003, trên cơ sở tự nguyện sau đó mâu thuẫn vợ chồng nên đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn. Đến năm 2020, bà C và ông P đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận cho đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông P sống không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên rượu chè, say xỉn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, xích mích. Bà C nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà C ly hôn với ông Ngô Viết P. Về con chung: có 3 con chung là cháu Ngô Thị Ngọc M, sinh ngày 05/6/2004, cháu Ngô Viết T, sinh ngày 04/10/2011 và cháu Ngô Viết P1, sinh ngày 18/5/2020. Cháu Ngô Thị Ngọc M đã đủ 18 tuổi nên bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Hoàng Thị C có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 2 cháu Ngô Viết T và Ngô Viết P1; không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con; về chia tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án ông Ngô Viết P không có ý kiến và vắng mặt tất cả các buổi làm việc tại Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử của Thẩm phán, Thư ký và của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định; bị đơn vắng mặt không có lý do là không chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Quan điểm về nội dung vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:
+ Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Hoàng Thị C ly hôn với ông Ngô Viết P.
+ Về nuôi con chung: giao 02 cháu là Ngô Viết T và Ngô Viết P1 cho bà Hoàng Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: bà C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với bị đơn. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Quảng Trị, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân: Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, kết quả xác minh của Tòa án, Hội đồng xét xử xét thấy: bà Hoàng Thị C và ông Ngô Viết P kết hôn vào năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Quá trình vợ chồng chung sống đến đầu năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện nguyên nhân do ông P thường xuyên rượu chè, gây gỗ vợ con, từ đó vợ chồng mâu thuẫn, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hội đồng xét xử xét thấy mẫu thuẫn vợ chồng đã đến mức độ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Hoàng Thị C ly hôn với ông Ngô Viết P.
Về nuôi con chung: có 3 con chung là cháu Ngô Thị Ngọc M, sinh ngày 05/6/2004, Ngô Viết T, sinh ngày 04/10/2011 và Ngô Viết P1, sinh ngày 18/5/2020. Cháu M đã trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết. Bà C yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Ngô Viết T và Ngô Viết P1. Hội đồng xét xử xét thấy bà C có công việc ổn định, các con đều có ý kiến muốn ở mẹ nên căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao 02 con cho bà C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông P không có việc làm nên không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bà Hoàng Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên xử:
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Hoàng Thị C ly hôn với ông Ngô Viết P.
- Về nuôi con chung: giao cháu Ngô Viết T, sinh ngày 04/10/2011 và cháu Ngô Viết P1, sinh ngày 18/5/2020 cho bà Hoàng Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Ngô Viết P không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: bà Hoàng Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/2023/0000229 ngày 13/3/2025 của Chi cục THADS huyện C. Bà C đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Cam Lộ; - Chi cục THADS huyện Cam Lộ; - UBND xã Thanh An; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý |