vanban.org

Bản án 08/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp dân sự về hụi"
  • Căn cứ chính? Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 08/2025/DS-ST
Ngày: 21-01-2025
V/v Tranh chấp dân sự về hụi

NHÂN DANH

N C C NG H A X H I CHỦ NGH A VI T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành ph n H i ng t

th m g m c :

Th m phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các H i th m nhân dân:

1. Ông Lê Thành Trung;

2. Ông Nguyễn Trần Quyết.

- Th

phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Loan là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H ng Ngự tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ s Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án thụ lý số: 362/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 08/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, gi a các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lưu Thị C, sinh năm 1960.

Địa chỉ: khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Ông Lê Văn B, sinh năm 1972.

Bà Võ Thị N, sinh năm 1978.

Cùng HKTT: ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

Cùng chỗ hiện nay: khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

N I DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên n bà L u Thị C trình bày: Vào ngày 10/11/2021 bà có làm chủ hụi và bà Võ Thị N có chơi một chân hụi loại hụi 10.000.000đồng một tháng khui một lần quá trình chơi hụi thì Võ Thị N đã hốt lần thứ 1, được số tiền là 207.220.000đồng do chồng Võ Thị N là Lê Văn B nhận tiền đủ phần hốt hụi được. Quá trình chầu hụi chết do Võ Thị N chầu kh ng đủ và yêu cầu bà chầu hụi thay, tràn cho đến khi mãn hụi và hai bên xác nhận nợ Võ Thị N, ông B còn thiếu bà số tiền hụi là 140.000.000đồng nhưng bên ng B có nói đã đóng tháng 11/2021 đóng 5.000.000đồng và tháng 11/2023 đóng 5.000.000đồng là 10.000.000đồng, thấy vậy bà cũng đồng ý nên hai bên chốt nợ lại là 130.000.000đồng nên ông B và bà N đã ký chốt nợ lại với bà bằng biên nhận nợ. Nhưng ng B và bà N không trả cho bà số tiền trên mặc dù bà có đòi nhiều lần. Do ng B và bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ với bà nên bà yêu cầu ông Lê Văn B và bà Võ Thị N có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà số tiền nợ hụi là 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi, chứ kh ng thống nhất nhận 110.000.000đồng, cũng kh ng thống nhất nhận 5.000.000đồng hàng tháng theo ý kiến của ng B, bà N.

Tại phiên toà, bà C xác định việc bà làm chủ hụi kh ng có đăng ký, thông báo với Chính quyền địa phương. Ông B, bà N tham gia chơi hụi của bà từ năm 2020, lúc đầu thì chầu hụi đầy đủ nhưng đến hai dây hụi trong vụ án này là từ năm 2022, 2023 thì hốt lần đầu mà không chầu hụi chết cho bà. Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của ông B và bà N đang gặp khó khăn nên bà tự nguyện giảm tiền cho ông B và bà N 20.000.000đồng. Bà chỉ yêu cầu ông Lê Văn B và bà Võ Thị N liên đới trả cho bà số tiền hụi còn thiếu là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

- Bị n ông Lê Văn B và bà Võ Thị N vắng mặt nh ng thống nhất trình bày: Ông, bà chỉ thống nhất trình bày trong biên bản hòa giải chứ kh ng thống nhất viết bản tự khai theo mẫu mà Tòa án đã đưa cho ng, bà. Ông, bà có chơi hai đầu hụi vào ngày 10/11/2021 âm lịch với 24 hụi viên, hụi 10.000.000đồng và hụi ngày 20/02/2023 âm lịch với 24 hụi viên, hụi 10.000.000đồng. Ông bà thừa nhận ch ký tên và ch viết họ và tên trong tờ giấy tập học sinh kẻ ngang có ghi hụi 10 triệu dì sáu Chánh làm chủ hụi tổng cộng số tiền 130.000.000đồng là của ch ký và ch viết của ng, bà là ng Lê Văn B và bà Võ Thị N. Nhưng sau khi đối chiếu lại thì phần hụi ng, bà kh ng chầu cho bà C còn lại chỉ có 110.000.000đồng nên ông, bà thừa nhận cho tới ngày 26/11/2024 ng, bà còn nợ lại số tiền hụi của bà C tổng cộng là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng). Nay ông, bà có thiếu tiền hụi của bà C số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng). Nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên ng, bà sẽ trả dần cho bà C hàng tháng là 5.000.000đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 91 và 92 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 166, 288, và Điều 471 Bộ Luật dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị Chánh . Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lưu Thị Chánh . Buộc ông Lê Văn B và bà Võ Thị N liên đới trả cho bà Lưu Thị C số tiền hụi còn thiếu là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), không tính lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ kiện tranh chấp dân sự về hụi nên thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Lê Văn B và bà Võ Thị N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt đương sự này. Vì vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các bị đơn.

Về n i dung vụ án:

- Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Lưu Thị C yêu cầu ông Lê Văn B và bà Võ Thị N trả cho bà số tiền hụi còn thiếu là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), không tính lãi. Hội đồng xét xử xét thấy:

+ Việc bà Lưu Thị C tổ chức các dây hụi do bà C làm chủ là chưa đảm bảo về mặc hình thức, nội dung và th ng báo theo quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 12, Điều 13, và điểm b khoản 1 Điều 14 của Nghị định 19/2019/NĐ- CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường như: Kh ng thỏa thuận bằng văn bản, kh ng được công chứng, chứng thực, danh sách các dây hụi không có nh ng nội dung chủ yếu như sau: Họ, tên, số CMND (Căn cước), ngày tháng năm sinh, nơi cư trú của chủ hụi, của các thành viên, thể thức góp hụi, lãnh hụi, mức hoa hồng của chủ hụi, lãi suất trong hụi, trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ, kh ng có sổ hụi ghi rõ các nội dung ngày góp hụi, số tiền đã góp của từng thành viên, ngày lãnh hụi, số tiền lãnh hụi của thành viên lãnh hụi, ch ký hoặc điểm chỉ của thành viên khi góp hụi và lãnh hụi…và kh ng có th ng báo về việc tổ chức dây hụi khi tổ chức từ hai dây hụi tr lên phải thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân C1 (phường) nơi cư trú.

+ Nhưng bà C có cung cấp cho Tòa án các danh sách hụi của từng dây hụi theo bà C yêu cầu, có hai quyển tập học sinh do bà C ghi và theo dõi từng dây hụi, trong đó có ghi từng lần, từng thành viên hốt hụi và số tiền chầu hụi cụ thể bao nhiêu; Đồng thời có biên nhận nhận nợ do ông Lê Văn B và bà Võ Thị N ký tên là còn nợ lại tiền hụi của bà Lưu Thị C số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng).

+ Ông Lê Văn B và bà Võ Thị N cũng xác nhận có tham gia chơi hụi do bà C làm chủ, qua đối chiếu từng lần chầu hụi chết và từng lần không chầu hụi chết thì tổng số tiền ng Lê Văn B và bà Võ Thị N còn thiếu lại bà Lưu Thị C là 130.000.000đồng. Nhưng ông Lê Văn B và bà Võ Thị N chỉ thừa nhận còn nợ lại bà Lưu Thị C số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng).

+ Theo Th ng báo yêu cầu cung cấp chứng cứ của Toà án thì ng Lê Văn B và bà Võ Thị N không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc ng Lê Văn B và bà Võ Thị N chỉ còn nợ lại bà Lưu Thị C số tiền 110.000.000đồng.

+ Do đó, xác định việc ông B, bà N có tham gia chơi hụi với bà C và còn nợ bà C số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng) là có thật.

+ Việc tham gia chơi hụi của bà C thì cả ng B và bà N đều biết vì cùng có ký tên trong biên nhận còn nợ lại tiền của bà C. Do đó, cần buộc ông Lê Văn B và bà Võ Thị N cùng có nghĩa vụ liên đới trả tiền hụi còn thiếu cho bà Lưu Thị C là phù hợp theo Điều 27 Luật H n nhân và gia đình.

+ Nhưng tại phiên toà bà Lưu Thị Chánh X thấy hoàn cảnh kinh tế của ông B và bà N đang gặp khó khăn nên bà C tự nguyện giảm tiền cho ông B và bà N 20.000.000đồng. Bà C chỉ yêu cầu ông Lê Văn B và bà Võ Thị N liên đới trả cho bà số tiền hụi còn thiếu là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Nên Hội đồng xét xử xét thấy ghi nhận sự tự nguyện này của nguyên đơn bà Lưu Thị C là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.

Từ nh ng nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị Chánh . Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Lưu Thị Chánh . Buộc ng Lê Văn B và bà Võ Thị N liên đới trả cho bà Lưu Thị C số tiền nợ hụi còn thiếu là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), kh ng tính lãi.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự là có căn cứ như nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với quy định pháp luật.

Về án phí: Do yêu cầu kh i kiện của bà Lưu Thị C được chấp nhận nên ông Lê Văn B và bà Võ Thị N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lưu Thị C là người cao tuổi nên được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QU T ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 166, Điều 288 và Điều 471 Bộ Luật dân sự; Điều 27 Luật H n nhân và gia đình; Nghị định 19/2019/NĐ- CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị Chánh .

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Lưu Thị Chánh . Buộc ng Lê Văn B và bà Võ Thị N liên đới trả cho bà Lưu Thị C số tiền nợ hụi còn thiếu là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), kh ng tính lãi.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí:

- Buộc ng Lê Văn B và bà Võ Thị N liên đới chịu 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà Lưu Thị C là người cao tuổi nên được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định pháp luật.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản a n na y trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ