vanban.org

Bản án 08/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T về việc buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải trả số tiền phí phạt chậm trả là 25.

Buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP T số tiền tính đến ngày 09.7.2025 là 59.885.200 đồng, trong đó: nợ gốc là 19.539.714 đồng, tiền lãi trong hạn là 11.440.050 đồng, tiền lãi quá hạn là 28.335.437 đồng, phí thường niên là 570.000 đồng. Kể từ ngày 10.7.2025, bà Nguyễn Thị Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐTD giữa Ngân hàng TMCP Tiên Phong - bà Nguyễn Thị Thùy Trâm"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T về việc buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải trả số tiền phí phạt chậm trả là 25.
  • Căn cứ chính? Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/DS-ST
Ngày 10 - 7 - 2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng và ông Nguyễn Văn Sanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1– Đà Nẵng Đà Nẵng tham gia phiên toà: bà Hà Thị Thu Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1, Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 150/2025/TLST-DS ngày 26.3.2025 về việc“Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-DS ngày 27.5.2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 55/2025/QĐST-DS ngày 13.6.2025, giữa:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T;

Trụ sở chính: Tòa nhà TP Bank, số *** phố Lý Thường Kiệt, phường Cửa Nam (phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm cũ), thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hồ Thị Thanh N - Chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ khách hàng cá nhân, bà Trương Thị H - Chức vụ: Chuyên viên cao cấp xử lý nợ khách hàng cá nhân, bà Lê Thị T1 - Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ khách hàng cá nhân, ông Trần Duy Q - Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ khách hàng cá nhân, ông Đinh Văn N - Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ khách hàng cá nhân, ông Trần Tấn H1 - Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ khách hàng cá nhân, bà Nguyễn Thúy T2 - Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ khách hàng cá nhân. Cùng địa chỉ: *** Nguyễn Hữu Thọ, phường Cẩm Lệ (phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ cũ), Thành phố Đà Nẵng.

(Theo Giấy ủy quyền số 05/2025/UQ-TPB.HĐQT ngày 10.01.2025 và Giấy ủy quyền số 319/2025/GUQ-TPB.CM ngày 17.02.2025.)

(Ông Trần Duy Quang có mặt).

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T3 – sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: K*** Hoàng Diệu, phường Hải Châu (phường Phước Ninh, quận Hải Châu cũ), Thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17.02.2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP T trình bày:

Ngày 29.4.2023, bà Nguyễn Thị Thùy T3 có ký với Ngân hàng TMCP T (sau đây gọi là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng TPBank kiêm hợp đồng và Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Nguyễn Thị Thùy T3, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng có hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng với mục đích thanh toán, tiêu dùng cá nhân; lãi suất trong hạn 39,60%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phí phạt chậm trả 4,4% số tiền chậm thanh toán, phí thường niên 285.000 đồng/năm.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Thùy T3 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 23.150.000 đồng. Trong quá trình sử dụng, bà Nguyễn Thị Thùy T3 đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 10.155.393 đồng (bao gồm phí, lãi và gốc) sau đó không trả nữa. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Thị Thùy T3 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Nguyễn Thị Thùy T3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06.6.2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 09.7.2025, bà Nguyễn Thị Thùy T3 còn nợ của Ngân hàng số tiền là 85.475.350 đồng (dư nợ gốc là 19.539.714 đồng, tiền lãi trong hạn là 11.440.050 đồng, tiền lãi quá hạn là 28.335.437 đồng, phí phạt chậm trả là 25.590.150 đồng và phí thường niên là 570.000 đồng). Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ và tiền lãi phát sinh, kể từ ngày 10.7.2025 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Hợp đồng.

Bà Nguyễn Thị Thùy T3 đã được Tòa án thực hiện thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T và không đến Tòa án để giải quyết vụ việc.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP T rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 trả phí phạt chậm trả là 25.590.150 đồng. Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ là 59.885.200 đồng, trong đó: nợ gốc là 19.539.714 đồng, tiền lãi trong hạn là 11.440.050 đồng, tiền lãi quá hạn là 28.335.437 đồng, phí thường niên là 570.000 đồng và phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 10.7.2025 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T3 đã được triệu tập để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đà Nẵng phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Các đương sự đã được đảm bảo các quyền và thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T về việc buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải trả số tiền phí phạt chậm trả là 25.590.150 đồng. Đồng thời chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T. Buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải trả cho Ngân hàng TMCP T số tiền tổng cộng là 59.885.200 đồng (nợ gốc là 19.539.714 đồng, tiền lãi trong hạn là 11.440.050 đồng, tiền lãi quá hạn là 28.335.437 đồng, phí thường niên là 570.000 đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thùy T3 thanh toán nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bà Nguyễn Thị Thùy T3 cư trú tại phường Hải Châu (phường Phước Ninh, quận Hải Châu cũ), Thành phố Đà Nẵng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thùy T3 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về việc xác lập hợp đồng: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng TPBank kiêm hợp đồng và Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng) mà bà Nguyễn Thị Thùy T3 ký với Ngân hàng TMCP T ngày 29.4.2023 thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định tại các Điều 117, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và phù hợp với quy định của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên có hiệu lực pháp luật đối với các bên tham gia ký kết.

Về yêu cầu thanh toán: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phí phạt chậm trả là 25.590.150 đồng và yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng só tiền 59.885.200 đồng (nợ gốc là 19.539.714 đồng, tiền lãi trong hạn là 11.440.050 đồng, tiền lãi quá hạn là 28.335.437 đồng, phí thường niên là 570.000 đồng). Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đình chỉ đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 trả tiền phí phạt chậm trả là 25.590.150 đồng mà nguyên đơn tự nguyện rút.

Mặc dù bà Nguyễn Thị Thùy T3 vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng TMCP T cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà bà Nguyễn Thị Thùy T3 ký với Ngân hàng với mục đích tiêu dùng có hạn mức 20.000.000 đồng; lãi suất 39,60%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; thời hạn thanh toán, số tiền thanh toán được thực hiện theo Thông báo hàng tháng của Ngân hàng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Thùy T3 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 23.150.000 đồng và đã thanh toán được số tiền phí, lãi, gốc tổng cộng là 10.155.393 đồng. Do bà Nguyễn Thị Thùy T3 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP T đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, kể từ ngày 06.6.2024 là đúng với quy định tại khoản 3.b Điều 6 của Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng. Tính đến ngày 09.7.2025, bà Nguyễn Thị Thùy T3 còn nợ Ngân hàng TMCP T số tiền là 59.885.200 đồng, trong đó: nợ gốc là 19.539.714 đồng, tiền lãi trong hạn là 11.440.050 đồng, tiền lãi quá hạn là 28.335.437 đồng, phí thường niên là 570.000 đồng.

Căn cứ vào thỏa thuận của các bên tại khoản 2 Điều 6 của Điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ tín dụng thì bà Nguyễn Thị Thùy T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Việc Ngân hàng TMCP T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thùy T phải thanh toán nợ là phù hợp với quy định tại Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 và Điều 280, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự 2015 cần được chấp nhận. Do đó, buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải trả cho Ngân hàng TMCP T số tiền tính đến ngày 09.7.2025 là 59.885.200 đồng như đã nêu trên và phải tiếp tục trả tiền lãi, kể từ ngày 10.7.2025 cho đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký kết ngày 29.4.2023.

Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP T được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đồng. Hoàn trả lại Ngân hàng TMCP T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, khoản 2 Điều 244, 266, 269 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 100, 103 và 209 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;

- Căn cứ vào Điều 280, 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T về việc buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải trả số tiền phí phạt chậm trả là 25.590.150 đồng.

2. Buộc bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP T số tiền tính đến ngày 09.7.2025 là 59.885.200 đồng, trong đó: nợ gốc là 19.539.714 đồng, tiền lãi trong hạn là 11.440.050 đồng, tiền lãi quá hạn là 28.335.437 đồng, phí thường niên là 570.000 đồng.

Kể từ ngày 10.7.2025, bà Nguyễn Thị Thùy T3 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký kết ngày 29.4.2023 cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thùy T3 phải chịu là 2.994.260 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T 1.212.925 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0005465 ngày 17.4.2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ