- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "NĐ: Hồ Thiên P, Trần Ly L; BĐ:Nguyễn Hữu P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Thiên P, bà Trần Ly L về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hữu V trả số tiền 9.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/DS-ST Ngày 15 tháng 8 năm 2025 “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Toan, bà Trần Thị Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Hằng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Toàn - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2025/TLST - DS ngày 03 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng thuê tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/ QĐXXST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2025 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/ QĐST–DS ngày 24 tháng 7 năm2025, giữa:
Nguyên đơn: Ông Hồ Thiên P, bà Trần Ly L. Địa chỉ: Số nhà 609, đường Giải p, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk (Ông P có mặt, bà L vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu V (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 8, xã Ea D, tỉnh Đăk Lăk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, ông Hồ Thiên P, bà Trần Ly L trình bày tóm tắt như sau:
Căn cứ hợp đồng thuê xe ngày 26/10/2024 giữa bên cho thuê là ông P, bà L và bên thuê là ông V. Tài sản cho thuê: 01 chiếc xe ô tô, biển số 47A-740.90. Thời gian thuê từ ngày 26/10/2024 đến sáng ngày 30/10/2024. Trách nhiệm: "Trong thời gian thuê và sử dụng nếu bị dính phạt nguội, thì ông V phải có trách nhiệm nộp phạt cho ông P, bà L".
Căn cứ theo 02 bản Thông báo vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt số 24-0000991/TB ngày 30/10/2024 và số 24- 000094/TB ngày 30/10/2024 của Phòng cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Bình Định.
Ông bà khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông V bồi thường số tiền là 12.500.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Sau đó, ông P, bà L thay đổi một phần nội dung đơn khởi kiện: Sau khi khởi kiện, ông V đã trả được số tiền 3.000.000đ và số tiền ông bà nộp vào ngân sách là 12.000.000đ chứ không phải là 12.500.000đ nên ông bà khởi kiện yêu cầu ông V trả số tiền còn lại là 9.000.000đ.
Tại Hợp đồng thuê xe tự lái ngày 26 tháng 10 năm 2024 có nội dung tóm tắt:
Bên cho thuê xe (Bên A): Hồ Thiên P; Bên thuê xe (Bên B): Nguyễn Hữu V; Tài sản thuê: Xe ô tô BKS 47A – 740.90. Thời gian thuê…..Trách nhiệm các bên:….. Nếu bị dính phạt nguội bên B có trách nhiệm nộp phạt cho bên A…
Tại Thông báo số 24-0000991/TB và số 24-000094/TB cùng ngày 30/10/2024 của Phòng cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Bình Định có nội dung tóm tắt:
Phương tiện: Ô tô con, biển số: 47A-740.90, chủ phương tiện: Trần Ly L.
+ Thời gian, địa điểm vi phạm: 21 giờ 17 phút, ngày 29/10/2024 tại Km 16+800, QL19, xã Phước L, huyện Tuy P, tỉnh Bình Định. Hành vi vi phạm: Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h.
+ Thời gian, địa điểm vi phạm: 22 giờ 44 phút, ngày 29/10/2024 tại Km 48-Km 50, QL19B, xã Tây B, huyện Tây S, tỉnh Bình Định. Hành vi vi phạm: Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h.
Tại biên lai thu thuế, phí, lệ phí ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Tổng công ty truyền thông VNPT – Media: Người nộp Trần Ly C số tiền phạt 12.000.000đ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Bị đơn được Tòa án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ Điều 385, Điều 398; các điều từ Điều 472 – 482 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền 9.000.000đ.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thụ lý vụ án:
+ Ông P, bà L và ông V ký hợp đồng thuê tài sản (Thuê xe ô tô tự lái). Do ông V vi phạm luật giao thông đường bộ nên ông P, bà L (chủ phương tiện) bỏ tiền ra nộp phạt thay cho ông V, nhưng ông V không trả lại. Do đó ông P, bà L khởi kiện yêu cầu ông V trả lại số tiền phạt do vi phạm luật giao thông đường bộ mà ông P, bà L trả thay. Như vậy quan hệ pháp luật ở đây là:“Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản " được quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ông P, bà L làm đơn khởi kiện và có nộp tiền tạm ứng án phí. Tại thời điểm thụ lý vụ án, ông V có hộ khẩu thường trú tại huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đắk Lắk) căn cứ các Điều 35, 39 và khoản 3 Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự để thụ lý vụ án.
. Về thủ tục tố tụng: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành hòa giải, nhưng không hòa giải được. Ông V vắng mặt lần 2, vì vậy HĐXX căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
. Về nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông P và bà L về việc buộc ông V trả số tiền 9.000.000đ, thì Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại Hợp đồng thuê xe tự lái thể hiện ông P cho ông V thuê xe ô tô mang BKS 47A – 740.90. Thời gian thuê từ ngày 26 đến sáng ngày 30/10/2024. Hai bên thoả thuận: Trong thời gian thuê nếu bị dính phạt nguội, thì ông V có trách nhiệm nộp phạt.
Tại các Thông báo của Phòng cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Bình Định có nội dung thông báo: Xe ô tô con, BKS 47A-740.90, vào khoảng 21 giờ 17 phút, ngày 29/10/2024 tại Km 16+800, QL19, xã Phước L, huyện Tuy P, tỉnh Bình Định. Vi phạm chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h và vào khoảng 22 giờ 44 phút, ngày 29/10/2024 tại Km 48-Km 50, QL19B, xã Tây B, huyện Tây S, tỉnh Bình Định. Vi phạm chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h.
Như vậy đã có đủ cơ sở khẳng định rằng ông P, bà L cho ông V thuê xe tự lái, hai bên thỏa thuận nếu ông V vi phạm giao thông đường bộ (Phạt nguội), thì ông V phải chịu phạt và trong khoảng thời gian thuê xe (21h 17phút – 22 giờ 44 phút ngày 29/10/2024) tại địa phận huyện Tuy P và huyện Tây S, tỉnh Bình Định, ông V điều khiển xe xe ô tô mang BKS 47A-740.90 của ông P, bà L chạy quá tốc độ quy định nên đã vi phạm luật giao thông đường bộ và Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính Phủ). Mức phạt là 12.000.000đ và ông P, bà L đã nộp phạt. Do đó việc ông P và bà L khởi kiện là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, ông P, bà L khẳng định sau khi Tòa án thụ lý vụ án, thì ông V đã chuyển trả cho ông bà 3.000.000đ và số tiền ông bà nộp vào ngân sách là 12.000.000đ, chứ không phải là 12.500.000đ, số tiền còn lại là 9.000.000đ nên ông P, bà L thay đổi nội dung đơn khởi kiện buộc ông V trả số tiền 9.000.000đ. Mặc dù không ghi đươc ý kiến của ông V, nhưng do ông P và bà L thừa nhận ông V đã trả 3.000.000đ, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, bà L và quan điểm đại diện Viện kiểm sát, buộc ông V trả cho ông P, bà L số tiền 9.000.000đ.
. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông P, bà L được Tòa án chấp nhận, nên ông V phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông P, bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; các điều 147; 235; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 385, Điều 398; các điều từ Điều 472 – Điều 482 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Thiên P, bà Trần Ly L về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hữu V trả số tiền 9.000.000đ.
Buộc ông Nguyễn Hữu V trả cho ông Hồ Thiên P và bà Trần Ly L số tiền 9.000.000đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
Ông Nguyễn Hữu V phải chịu 450.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho ông Hồ Thiên P, bà Trần Ly L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 313.000đ theo Biên lai số AA/2023/ 0002588 ngày 12 tháng 2 năm 2025.
3. Về quyền và thời hạn kháng cáo:
Ông P có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bà L, ông V vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Khu vực 9 – Đắk Lắk; - Phòng THADS Khu vực 9 – Đắk Lắk; - Các đương sự; - …; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Văn Dũng |