- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Lưu Văn H-Lê Văn V"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lưu Văn H đối với bị đơn ông Lê Văn V về việc yêu cầu ông Lê Văn V bồi thường thiệt hại với số tiền là 12.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật tranh; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật tranh; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật tranh
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2025/DS-ST Ngày: 26 - 3 - 2025 V/v Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Bé Ngọc.
2. Ông Võ Xuân Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Phước Lộc - Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lưu Văn H; sinh năm: 1960. (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp I, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Ông Lê Văn V; sinh năm: 1971. (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp I, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lưu Văn H trình bày:
Vụ thứ 01: Vào khoảng ngày 29/11/2019, ông Lê Văn V đã phun thuốc diệt cỏ trên toàn bộ bờ ranh của ông V, phun thuốc diệt cỏ luôn cả diện tích đất và bờ mẫu tranh chấp với gia đình ông H, phun luôn xuống ruộng lúa của ông H gây thiệt hại đến tài sản là lúa non, sạ được hơn 03 tuần dẫn đến cháy lúa dọc bờ mẫu giáp ranh, diện tích lúa bị thiệt hại khoảng 280m x 0,6m. Việc làm này của ông V đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của gia đình ông H nên ông V phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông H là: 1.500.000 đồng tiền công trục, bươi xới, tiền lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt ốc bươu vàng và công sức.
Vụ thứ 02: Ngày 03/7/2021, ông V đã cố tình tháo nước vào phần đất của ông V, tràn bờ tràn xuống ngập ruộng lúa mới sạ (cùng ngày) của gia đình ông H, gây thiệt hại toàn bộ công trục, bươi xới, tiền lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt ốc bươu vàng,... và công sức mà gia đình ông H đã đầu tư tại thửa 766 với diện tích 11.208m2 cho vụ H1 - Thu này.
Do đó, ông Lưu Văn H khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn V bồi thường thiệt hại tổng cộng số tiền là 12.030.000 đồng, bao gồm tiền công, tiền trục, giống, phân bón của việc xịt thuốc lúa làm chết lúa và vụ lúa H1 - Thu năm 2021.
- Theo nội dung biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn V trình bày:
Về yêu cầu bồi thường thiệt hại do việc xịt thuốc cỏ lúa: Vào khoảng tháng 11/2019 ông V và ông H đều có xịt thuốc cỏ lúa trên bờ mẫu phần đất canh tác của mỗi bên. Tuy nhiên, ông H xịt thuốc cỏ lúa trước khi ông V xịt thuốc khoảng 03 đến 04 ngày. Sau khi cỏ trên bờ mẫu của ông H chết thì ông V mới xịt thuốc trên bờ mẫu của ông V. Khi xịt thuốc cỏ lúa thì ông V chỉ xịt thuốc trên phần bờ mẫu phía phần đất của ông V. Nên việc lúa bị chết là do thuốc cỏ lúa của ông Hai X, không phải do ông V. Vì vậy, ông V không đồng ý bồi thường thiệt hại cho ông H.
Về yêu cầu bồi thường thiệt hại do việc bơm nước: Từ trước đến nay ông V không canh tác vụ lúa Thu - Đông (vụ 03, sạ lúa vào khoảng tháng 5 âm lịch) nên không thực hiện việc bơm nước. Ông V cũng không có tháo nước vào ruộng của ông H. Lý do nước tràn vào ruộng của ông H là do mưa nhiều nước tràn vào ruộng của ông V và tràn sang ruộng của ông H (do bờ mẫu giữa hai thửa ruộng quá thấp). Vì vậy, ông V không đồng ý bồi thường thiệt hại cho ông H.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Nguyên đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ: Bản tự khai; Đơn đề nghị miễn án phí, tạm ứng án phí; Căn cước công dân của nguyên đơn (bản sao); Hóa đơn bán lẻ; 10 ảnh màu; Bảng kê cho phí thiệt hại; Hồ sơ giải quyết khiếu nại (bản phôtô).
Bị đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ: Căn cước công dân của bị đơn (bản phô tô).
Tòa án thu thập các tài liệu, chứng cứ: Biên bản lấy lời khai của bị đơn; Biên bản xác minh ngày 05/02/2025.
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Không có.
Các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Thời điểm phát sinh tranh chấp, ông V không làm lúa vụ T - Đ. Việc bơm nước vào ruộng là do trạm bơm tập thể thực hiện bơm nước chung cho cả cánh đồng. Sau khi sự việc xảy ra, ông H có trình báo sự việc với trình quyền địa phương nhưng không có lập biên bản quả tang về hành vi của ông V.
Các tình tiết mà các bên không thống nhất: Bị đơn không thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: Buộc đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bồi thường thiệt hại do bị đơn phun thuốc diệt cỏ và tháo nước tràn vào ruộng lúa làm chết lúa của nguyên đơn. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” theo quy định tại khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại huyện V, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật tranh chấp xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Theo quy định tại Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 2 của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố: Có hành vi xâm phạm, có thiệt hại xảy ra và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm. Tại Biên bản xác minh ngày 05/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, được chính quyền địa phương cung cấp: “Về việc ông Lưu Văn H cho rằng ông Lê Văn V xịt thuốc cỏ lúa trên ruộng của ông Lưu Văn H địa phương không nắm rõ, không chứng kiến hoặc lập biên bản quả tang ông Lê Văn V xịt thuốc cỏ lúa trên phần đất của ông Lưu Văn H. Thời điểm phát sinh tranh chấp, ông Lê Văn V không làm lúa vụ T - Đ. Việc bơm nước vào ruộng là do trạm bơm tập thể thực hiện bơm nước chung cho cả cánh đồng. Ông Lưu Văn H có trình báo sự việc ông Lê Văn V khai nước, không đắp bờ làm tràn nước vào ruộng của ông Lưu Văn H sau khi sự việc xảy ra nhưng không có người chứng kiến hoặc lập biên bản quả tang về hành vi của ông Lê Văn V”. Tại phiên tòa, nguyên đơn thừa nhận không trực tiếp chứng kiến bị đơn thực hiện hành vi phun thuốc cỏ và tháo nước vào ruộng của nguyên đơn mà chỉ nghe người khác nói lại và nguyên đơn nghi ngờ vì chỉ có bị đơn mâu thuẫn với nguyên đơn do hai bên từng xảy ra tranh chấp đất đai; sau khi sự việc xảy ra thì chính quyền địa phương có lập biên bản nhưng không xác định được ai là người thực hiện hành vi phun thuốc cỏ và tháo nước vào ruộng của nguyên đơn và khi lập biên bản cũng không có sự thừa nhận của bị đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh bị đơn có hành vi xâm phạm gây thiệt hại đến tài sản của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm của nguyên đơn không có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật (không thỏa mãn yếu tố “có hành vi xâm phạm”). Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn bồi thường thiệt hại do hành vi xịt thuốc cỏ làm chết lúa vào ngày 29/11/2019 và tháo nước vào ruộng làm chết lúa của vụ lúa H1-Thu năm 2021.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận nhưng được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi và có yêu cầu miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 và khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lưu Văn H đối với bị đơn ông Lê Văn V về việc yêu cầu ông Lê Văn V bồi thường thiệt hại với số tiền là 12.030.000 đồng (mười hai triệu không trăm ba mươi nghìn đồng), bao gồm tiền công, tiền trục, giống, phân bón của việc xịt thuốc cỏ làm chết lúa vào ngày 29/11/2019 và tháo nước vào ruộng làm chết lúa của vụ lúa H1-Thu năm 2021.
2. Về án phí: Nguyên đơn ông Lưu Văn H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS huyện Vị Thủy; - Cổng TTĐT TANDTC; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ánh Trúc |