- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bảo T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Tội danh: Tu ên bố bị cáo Trần Bảo T phạm tội Trộm cắp t i sản
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 50 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày 29 - 01- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Ngu n Hải Ninh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Đức Hiếu; 2 Ông L nh Văn Khánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Ngu n Mạnh Cường - Kiểm sát viên
Ng 29 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2024/TLST-HS ng 10 tháng 01 năm 2024 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HS ng 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Trần Bảo T, sinh ng 18 tháng 10 năm 1995 tại tỉnh Lạng Sơn; số CCCD: 020095002695, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Trọng D (đã chết) v b Hà Hồng A; vợ, con: Chưa có; tiền án: Tại bản án số 109/2020/HSST ngày 04/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gâ thương tích, chấp hành án phạt tù xong ngày 25/5/2023, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 22/4/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 48/2013/HSST, chấp hành hình phạt tù xong ngày 15/10/2013 (chưa được xóa án tích do chưa thi h nh phần dân sự). Ngày 30/5/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 69/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ng 01/3/2015 (chưa được xóa án tích do chưa thi h nh phần dân sự). Ngày 18/5/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 03 năm tù theo Bản án 41/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ng 01/3/2019 (chưa được xóa án tích do chưa thi h nh xong phần dân sự); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ng 15/10/2023 đến na ; có mặt
- Bị hại: Anh Dương Ngô Tuấn H, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguy n Thế T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số F, đường B, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt
- Người làm chứng: Anh Dương Tuấn V; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu x i cá nhân nên Trần Bảo T nả sinh ý định Trộm cắp t i sản Trần Bảo T đến khu vực Chợ G, phường V, TP L mua 01 vam phá khóa (dạng thanh kim loại hình chữ T) để sử dụng v o mục đích Trộm cắp tài sản Khoảng giữa tháng 10/2023, Trần Bảo T gặp Dương Tuấn V - l bạn bè quen biết khi đi chấp h nh án v xin ngủ nhờ ở phòng trọ của Dương Tuấn V Đến khoảng 18 giờ ng 14/10/2023, Trần Bảo T cùng Dương Tuấn V đi bộ từ phòng trọ của Dương Tuấn V đến quán Đ, địa chỉ số G đường B, phường Đ, th nh phố L, Lạng Sơn để chơi điện tử Trước khi đi, Trần Bảo T mang theo vam phá khóa cất giấu trong túi quần để khi phát hiện t i sản sơ hở thì trộm cắp Đến khoảng 18 giờ 40 cùng ngày, Trần Bảo T một mình đi ra khu vực trước cửa quán điện tử để hút thuốc Tại đâ , Trần Bảo T phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, m u nâu, biển kiểm soát 33M7-3657 của Dương Ngô Tuấn H đến chơi điện tử, dựng trước cửa quán Trần Bảo T quan sát xung quanh không có ai, nên dùng vam cắm v o ổ khóa vặn để phá khóa rồi nổ má , điều khiển chiếc xe mô tô lấ trộm của H đi tìm nơi tiêu thụ Khi Trần Bảo T đi trên khu vực đường B, phường Đ, th nh phố L, Trần Bảo T ném chiếm vam phá khóa xuống khu vực vỉa hè rồi đi đến gặp nam thanh niên tên Đức A1 tại số nh C đường P, phường H, th nh phố L va số tiền 4 500 000 đồng rồi đặt chiếc xe mô tô trên để l m tin Sau đó, Trần Bảo T đi taxi đến khu vực chợ Đ1, phường H, th nh phố L sử dụng hết số tiền trên rồi về phòng trọ của Dương Tuấn V để ngủ
Ngay sau khi phát hiện mất chiếc xe mô tô trên, Dương Ngô Tuấn H đến Cơ quan Công an trình báo sự việc Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất camera an ninh tại quán Đ thu giữ 06 tập tin video có nội dung liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản. Kiểm tra video phát hiện Trần Bảo T có đặc điểm giống với đối tượng trộm cắp tài sản của Dương Ngô Tuấn H Cơ quan điều tra tiến hành mời Trần Bảo T về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Công an, Trần Bảo T khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như trên Thu giữ tại số nh C, đường P, phường H, TP L: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUFAT (kiểu dáng Dream, mặt ngoài nắp máy ghi chữ HONDA), màu nâu trắng, biển kiểm soát 33M7-3657, không gương, không giỏ, số khung CG058012, số má FMG058102, xe cũ đã qua sử dụng.
Kết luận định giá tài sản số 76/KL-HĐĐGTS ng 16/10/2023 của Hội đồng định giá thường xu ên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Sufat, màu nâu, biển kiểm soát 33M7-3657, số khung 058012, số má 058102, đăng ký năm 2005, xe cũ đã qua sử dụng có giá 2 500 000 đồng.
Kết luận giám định số 56/KL-KTHS ngày 04/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận hình ảnh trong 06 (sáu) tập tin video được lưu trữ trong 01 (một) đĩa DVD, nhãn hiệu Maxell, m u cam, đựng trong một phong bì Công an thành phố L, Lạng Sơn, niêm phong có chữ ký của các bên liên quan gửi đi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sufat m u sơn nâu, gắn biển kiểm soát 33M7-3657 có dấu hiệu bị tẩy xóa số khung, số má nên đã ban h nh Qu ết định trưng cầu giám định số 347/QĐ-HS ng 07/11/2023 để trưng cầu số khung 058012 và số máy 058102 có bị tẩ xóa, đóng lại hay cắt hàn hay không, xác định số khung, số máy nguyên thủy.
Kết luận giám định số 04/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Sufat m u sơn nâu, gắn biển kiểm soát 33M7-3657 có số khung CG058012 và số máy FMG058102 là số tẩ xóa đóng lại Qua giám định không xác định được số khung nguyên thủy.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS, ng 09/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tru tố bị cáo Trần Bảo T về tội Trộm cắp t i sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận h nh vi trộm cắp t i sản như bản Cáo trạng nêu, mục đích trộm cắp t i sản để có tiền tiêu cho bản thân
Bị hại Dương Ngô Tuấn H trình b : Tại thời điểm xe mô tô nhãn hiệu SUFAT (kiểu dáng Dream, mặt ngoài nắp máy ghi chữ HONDA), màu nâu trắng, biển kiểm soát 33M7-3657, không gương, không giỏ, số khung CG058012, số má FMG058102, xe cũ đã qua sử dụng bị trộm cắp, anh l người được cậu là Nguy n Thế T1 cho mượn l m phương tiện đi lại. Nguồn gốc chiếc xe là của anh Nguy n Thế T1, anh yêu cầu bị cáo trả lại xe cho anh để anh trả lại cho cậu; anh không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguy n Thế T1 trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu SUFAT (kiểu dáng Dream, mặt ngoài nắp máy ghi chữ HONDA), màu nâu trắng, biểm kiểm soát 33M7-3657, không gương, không giỏ, số khung CG058012, số má FMG058102, xe cũ đã qua sử dụng là của anh mua v o năm 2018 tại một cửa hàng bán xe mô tô ở Hà Nội với số tiền 10.000.000 đồng, nhưng do thời gian đã lâu anh không nhớ là cửa hàng nào. Từ khi mua xe về anh v gia đình vẫn sử dụng xe để đi, không sửa chữa gì về số khung, số máy. Anh có cho cháu là Dương Ngô Tuấn H mượn xe để cháu đi lại Anh đề nghị bị cáo trả lại xe cho bị hại để bị hại trả lại xe cho anh để trong gia đình có phương tiện đi lại; anh không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Đại diện Viện kiểm sát đánh giá đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội như Cáo trạng tru tố, nên giữ ngu ên kết luận tru tố v đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tu ên bố bị cáo Trần Bảo T phạm tội Trộm cắp t i sản; xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù
Bị cáo không có nghề nghiệp, không có t i sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền
Biện pháp tư pháp: Tru thu số tiền bị cáo phạm tội m có 4 500 000 đồng để nộp ngân sách Nh nước
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1 điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị trả lại cho bị hại Dương Ngô Tuấn H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUFAT (kiểu dáng Dream, mặt ngoài nắp máy ghi chữ HONDA), màu nâu trắng, biển kiểm soát 33M7-3657, không gương, không giỏ, số khung CG058012, số má FMG058102, xe cũ đã qua sử dụng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về t i sản: Bị hại không có êu cầu bồi thường, nên không xem xét giải qu ết
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qu định của pháp luật.
Phần thủ tục tranh luận, bị cáo Trần Bảo T nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát v không có lời b o chữa, tranh luận; bị hại v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận
Lời nói sau cùng, bị cáo nhận biết h nh vi trộm cắp t i sản l sai phạm, bị cáo mong được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về h nh vi, qu ết định tố tụng v việc thu thập bảo quản t i liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra Công an th nh phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tru tố đã thực hiện đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật Tố tụng hình sự Không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, qu ết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng Do đó, các h nh vi, qu ết định tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Người l m chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến h nh xét xử vụ án theo qu định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Lời khai của bị cáo phù hợp với t i liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 14/10/2023, tại Số G đường B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Trần Bảo T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sufat, màu nâu, biển kiểm soát 33M7-3657, số khung 058012, số máy 058102 của anh Dương Ngô Tuấn H, mục đích để đem bán, cầm cố lấy tiền tiêu. Giá trị tài sản bị trộm cắp l 2 500 000 đồng Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích m ng 14/10/2023 lại thực hiện h nh vi phạm tội do cố ý, do đó lần phạm tội n của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm ngu hiểm
Với h nh vi trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tru tố đối với bị cáo l có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậ , có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Bảo T phạm tội Trộm cắp t i sản, tội phạm v hình phạt được qu định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự
Để qu ết định mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá các căn cứ qu ết định hình phạt theo qu định tại khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Hình sự như sau:
Về tính chất vụ án v mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được h nh vi trộm cắp t i sản l vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu s i m bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm H nh vi phạm tội của bị cáo gâ ra là ngu hiểm cho xã hội, h nh vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến qu ền sở hữu t i sản của công dân, đã xâm phạm trật tự an to n xã hội; bị cáo trộm cắp t i sản trị giá 2 500 000 đồng, lần phạm tội n thuộc trường hợp tái phạm ngu hiểm, hành vi trộm cắp t i sản thể hiện có sự chuẩn bị từ trước như chuẩn bị vam phá khóa, có mục đích chiếm đoạt t i sản từ trước chứ không phải bồng bột nhất thời
Về nhân thân: Trước lần phạm tội n bị cáo đã 04 lần bị kết án, nhưng bị cáo không lấ đó l m b i học, tu dưỡng sửa chữa sai phạm m vẫn cố ý phạm tội, đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án v tại phiên tòa bị cáo th nh khẩn khai báo về h nh vi phạm tội đã thực hiện, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Đánh giá các căn cứ qu ết định hình phạt như trên, thấ cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc cách l bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục v phòng ngừa tội phạm chung
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có t i sản có giá trị nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền
Về biện pháp tư pháp: Sau khi trộm cắp được t i sản, bị cáo đã đem chiếc xe mô tô đi đặt l m tin với người tên Đức A1 để mượn 4 500 000 đồng v bị cáo đã đem số tiền mượn được đi tiêu hết Do đó, cần thiết tru thu bị cáo số tiền 4 500 000 đồng có được từ h nh vi phạm tội để nộp ngân sách Nh nước
Về vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong sau giám định bên trong có 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell, m u cam, đựng trong một phong bì Công an thành phố L niêm phong có chữ ký của các bên tham gia được lưu kèm hồ sơ vụ án Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sufat, màu nâu, biển kiểm soát 33M7-3657, số khung 058012, số má 058102 xác định được người đứng tên đăng ký l anh Lê Văn V1, sinh năm 1986, trú tại thôn P, xã L, huyện P, thành phố Hà Nội. Qua làm việc, anh Lê Văn V1 trình bày chiếc xe mô tô trên anh đã bán cho người khác sử dụng từ khoảng năm 2011, hiện nay không thuộc quyền sở hữu của anh nên anh không có yêu cầu, đề nghị gì đối với chiếc xe mô tô trên. Ngày 14/10/2023, Dương Ngô Tuấn H mượn xe của Nguy n Thế T1 để l m phương tiện đi lại. Nguy n Thế T1 trình bày khoảng năm 2018, Nguy n Thế T1 mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUFAT, màu nâu, biển kiểm soát 33M7-3657, số khung 058012, số má 058102 (kèm theo xe có đăng ký xe) ở cửa hàng mua bán xe máy cũ trên địa bàn thành phố Hà Nội với giá 10 000 000 đồng để sử dụng cho đến nay. Khi mua Nguy n Thế T1 không biết chiếc xe mô tô đã bị tẩy xóa số khung, số máy Quá trình sử dụng phương tiện Nguy n Thế T1 không được chỉnh sửa số khung, số máy của xe. Ngày 28/11/2023, Nguy n Thế T1 có đơn đề nghị xin lại chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 33M7-3657 Cơ quan điều tra đã tra cứu xe máy vật chứng, kết quả tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng đối với xe mô tô trên Nên có căn cứ trả lại chiếc xe mô tô cho bị hại Dương Ngô Tuấn H.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không êu cầu giải qu ết, nên Tòa án không xem xét giải qu ết
Đối với Dương Tuấn V, khi Trần Bảo T thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô, Dương Tuấn V không được bàn bạc và không biết việc Trần Bảo T thực hiện hành vi trộm cắp ng 14/10/2023 nên không có căn cứ xử lý.
Đối với nam thanh niên tên Đức A1, sinh năm 1993, thuê trọ tại phòng số 1, số nh C đường P, phường H, thành phố L l người cho Trần Bảo T vay số tiền 4 500 000 đồng và giữ chiếc xe do Trần Bảo T trộm cắp ngày 14/10/2023. Quá trình điều tra, do Trần Bảo T không biết rõ lai lịch của người n , Cơ quan điều tra đã tiến h nh xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của Đức A1. Quá trình làm việc với anh Đỗ Văn H1 (sinh năm 1985, trú tại số A đường L, phường H, thành phố L, là chủ khu trọ) trình bày: Nam thanh niên tên Đức A1 là khách mới đến thuê trọ được vài ngày rồi lại bỏ đi, Đức A1 chưa cung cấp giấy tờ cá nhân cho anh Đỗ Văn H1 để đi đăng ký tạm trú, hiện Đức A1 không thuê trọ của anh Đỗ Văn H1 nữa. Do vậ , Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được với Đức A1 nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Bị cáo l người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nh nước theo qu định của pháp luật
Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận
Bị cáo, bị hại, người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có qu ền kháng cáo bản án theo qu định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ v o điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án
1 Tội danh: Tu ên bố bị cáo Trần Bảo T phạm tội Trộm cắp t i sản
2 Hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Bảo T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ng bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 15/10/2023.
3 Biện pháp tư pháp: Tru thu bị cáo số tiền phạm tội m có 4 500 000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng để nộp ngân sách Nh nước
4 Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị hại Dương Ngô Tuấn H (01) xe mô tô nhãn hiệu Sufat, màu nâu, biển kiểm soát 33M7-3657, số khung hiện tại 058012, số máy hiện tại 058102, xe cũ đã qua sử dụng.
(Vật chứng nêu trên được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/01/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).
5 Án phí: Buộc bị cáo Trần Bảo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200 000đ (hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nh nước
6 Qu ền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có qu ền kháng cáo bản án; người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có qu ền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến qu ền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ng , kể từ ng tu ên án.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn; - Công an Tp Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (01 bản); - Cơ quan THAHS Công an Tp Lạng Sơn (02 bản); - Chi cục THA dân sự th nh phố Lạng Sơn; - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu VT, Hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Ninh |