- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm n, khoản 1 điều 123; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày: 01-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lý Thị Đoàn.
Thẩm phán: Bà Trần Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh.
Ông Nguyễn Trần Phương.
Ông Vương Văn Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung – Thư ký TAND tỉnh Hoà Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 07/QĐXXST-HS ngày 19/01/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc F, Sinh ngày 26/12/1991 tại Nam Trực, Nam Định; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Thượng Đồng, xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định; Nghề nghiê ̣p: Lao động tự do. Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 5/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; Có bố là Nguyễn Văn Cùng (đã chết) và có mẹ là Chu Thị R sinh năm 1963; Có vợ là Lê Thị Huế (đã ly hôn) và có 04 con: Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2023 đến nay. Được trích xuất có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Bích D – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Mạnh G, sinh năm 1995. ĐT: 0975 587 092
Trú tại: Tổ 1, phường Dân Chủ, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ D quan:
+ Bà Chu Thị R, sinh năm 1963.
Trú tại: Xóm Thượng Đồng, xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Bà Cao Thị Nghĩa, sinh năm 1969.
Trú tại: Tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
+ Chị Nguyễn Thị Khen, sinh năm 2003.
Trú tại: Tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc F là người làm thuê quán phở bò “Họ Vũ” tại số 71 Khúc Thừa Dụ, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Khoảng tháng 12/2022, chị Nguyễn Thị Khen, sinh năm 2003, trú tại: tổ dân phố Ngọc 1, phường Trung Minh, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình xin vào cùng làm ở quán. Trong quá trình làm việc chị Khen và F có phát sinh quan hệ yêu đương. Sáng ngày 24/01/2023 (mùng 4 tết Nguyên đán), F và chị Khen cùng 04 (bốn) người con của F đi xe khách từ Nam Định lên nhà chị Khen để chơi Tết. Khoảng 08 giờ, ngày 25/01/2023, anh Nguyễn Mạnh G là người yêu cũ của chị Khen đến nhà chị Khen chơi. Tại gian khách nhà chị Khen, ông Nguyễn Văn Liệp sinh năm 1972 là bố đẻ chị Khen nói với anh G việc chị Khen đã có người yêu sắp cưới, và yêu cầu anh G không được qua lại với chị Khen nữa, đồng thời bảo anh G đi về, lúc này F và chị Khen ở gian bên cạnh nên cũng nghe thấy. Sau khi nghe ông Liệp nói anh G đi về và đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì dùng ứng dụng facebook gọi điện cho chị Khen song F nghe máy, nghe thấy giọng F thì anh G tắt đi, thấy vậy F nhắn tin lại cho anh G “Tao là người yêu của Khen, mày không thấy sáng nay bố Khen đuổi mày rồi mà còn cố tình à”, anh G trả lời “Tao không quan tâm”, sau đó hai bên xảy ra mâu thuẫn và thách thức nhau, anh G hẹn F 10 phút sau anh G đến nhà chị Khen gặp F để giải quyết.
Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày 25/01/2023, khi F đang đứng đợi để đón xe khách về Nam Định thì thấy một nam thanh niên điều khiển xe mô tô đến và chửi đồng thời đe dọa đánh F, lúc này F nhận ra đó là anh G, do sợ bị đánh nên F bỏ chạy vào trong gian khách nhà chị Khen và nói với anh G vào nhà chị Khen để nói chuyện nhưng anh G không đồng ý mà yêu cầu F đi ra ngoài, F đi ra và dùng tay rút chìa khoá xe của anh G, sau đó hai bên cùng xông vào giằng co vật lộn với nhau. Thấy vậy, bà Cao Thị Nghĩa sinh năm 1969 là mẹ đẻ chị Khen chạy ra để can ngăn và kéo F làm F bị ngã xuống bậc thềm nhà, lúc này F thấy dưới đất phía bên phải có một con dao (loại dao thường dùng để chặt củi dài khoảng 40cm, cán dao bằng gỗ, loại dao có một lưỡi sắc, mũi nhọn đã bị gãy), nên đã vùng dậy cầm dao bằng tay phải và đứng lên chém mạnh D tiếp 02 phát hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào vùng đầu anh G khi đang đội mũ bảo hiểm của làm vỡ mũ đồng thời trúng vào đầu anh G. Bị F chém, anh G ngồi xuống ôm đầu, bà Nghĩa thấy vậy đã tháo mũ bảo hiểm của anh G ra và thấy đầu anh G chảy máu, bà Nghĩa đứng dậy kéo F cách xa anh G. Sau đó, anh G bỏ chạy, F đuổi theo khoảng 02 mét và chém tiếp 01 (một) nhát trúng vào cánh tay trái của anh G thì dừng lại không đuổi theo nữa và ném con dao vào bụi cây trước cửa gara ô tô “Phố Ngọc” rồi quay lại nhà chị Khen. Khi thấy Nguyễn Ngọc F không đuổi theo nữa thì anh G quay lại nhà chị Khen để lấy xe, thấy vậy bà Nghĩa dắt xe sang bên đường cho anh G, mũ bảo hiểm bị vỡ nên anh G đã bỏ lại ở ven đường. Sau đó, anh Nguyễn Mạnh G điều khiển xe máy đi đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình để điều trị còn Nguyễn Ngọc F đã đón xe khách đưa 04 (bốn) người con về Nam Định. Sau khi điều trị vết thương anh Nguyễn Mạnh G đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc trên. Ngày 30/01/2023, Nguyễn Ngọc F đến Cơ quan Công an thành phố Hoà Bình đầu thú.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 24/TgT ngày 31/01/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Hoà Bình kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 29% (hai mươi chín phần trăm). Đặc điểm vật gây thương tích: Vật sắc.”
Về vật chứng trong vụ án: Không
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Ngọc F đã bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Mạnh G số tiền 70.000.000 đồng. Ngoài ra, anh Nguyễn Mạnh G không đề nghị bồi thường thêm gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
* Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKS-P2 ngày 04/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc F về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trình bày lời luận tô ̣i ta ̣i phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân tinh Hỏ
̀a Bình: Giữ nguyên quyết đi ̣nh truy tố của Viện kiểm sát nhân dân dân tỉnh Hòa Bình; phân tich tinh chất, mứ c đô ̣, hâ ̣u quả của hành vi do bi ̣ cáo thực hiê ̣n , nhân
́
́ thân của bị cáo; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ; đề nghị:
Căn cứ: Điểm n, khoản 1, Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38; Điều 54 của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.
̀
Xử pha ̣t: Bị cáo Nguyễn Ngọc F từ 08 đến 09 năm tù về tô ̣i Giết người. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/01/2023.
Về xử lý vật chứng: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra Nguyễn Ngọc F đã bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Nguyễn Mạnh G số tiền 70 triệu đồng, anh Nguyễn Mạnh G không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì thêm khác. Nên đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo trình bày : Nhất tri vớ i cáo tra ̣ng
́ truy tố bi ̣ cáo F về tô ̣i danh, điều luâ ̣t, khoản truy tố. Trợ giúp pháp lý đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 54 của của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự : Thành khẩn khai
̀ báo, ăn năn hối cải; Đã bồi thường toàn bộ tổn thất, thiệt hại cho bị hại; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại không chết, trường hợp phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo; sau khi ly hôn bị cáo một mình nuôi bốn con nhỏ và mẹ già, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, xem xét cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn nộp án phí.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc F khai nhâ ̣n toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận, các con của bị cáo còn rất nhỏ, xin Hô ̣i đồng xét xử xem xét cho bi ̣ cáo hưở ng mứ c án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
Bị hại anh Nguyễn Mạnh G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh G giữ nguyên lời khai đã khai trong quá trình điều tra, anh xác nhận đã nhận số tiền bồi thường 70 triệu đồng từ gia đình bị cáo và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ D quan là bà Chu Thị R có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và xác nhận: Số tiền 70 triệu đồng gia đình đã bồi thường cho bị hại là tiền của bà R, do bị cáo đã tác động bà bồi thường cho bị hại, nay bà không yêu cầu bị cáo thanh toán lại cho bà số tiền trên và xin giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc F đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ D quan, người làm chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, xác định:
Nguyễn Ngọc F là người có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 25/01/2023, giữa F và anh Nguyễn Mạnh G phát sinh mâu thuẫn trong quan hệ tình cảm. trong lúc hai người giằng co, xô đẩy nhau Nguyễn Ngọc F đã nhặt 01 con dao (loại dao cũ thường dùng để chặt củi dài khoảng 40cm, cán gỗ, loại dao có một lưỡi sắc, mũi nhọn đã bị gãy) và dùng dao chém mạnh 02 phát vào vùng đầu của anh G, khi anh G bỏ chạy, F tiếp tục đuổi theo chém tiếp 01 phát vào vùng tay trái của anh Nguyễn Mạnh G và dừng lại. Sau khi bị F chém, anh Nguyễn Mạnh G đã đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình để cấp cứu, sau đó đến Cơ quan Công an trình báo sự việc; hậu quả anh Nguyễn Mạnh G tổn hại 29% sức khoẻ. Ngày 30/01/2023, Nguyễn Ngọc F đến Công an thành phố Hoà Bình đầu thú.
Hành vi bị cáo Nguyễn Ngọc F dùng dao chặt củi loại dao có một lưỡi sắc chém mạnh 02 phát vào vùng đầu của anh G là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại Nguyễn Mạnh G, khi anh G bỏ chạy F đã tiếp tục đuổi theo chém tiếp 01 phát vào vùng tay trái của anh Nguyễn Mạnh G, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt F đã có hành vi dùng dao chém vào vùng đầu anh G là vùng trọng yếu trên cơ thể anh G thể hiện việc bị cáo xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác, đây là lỗi cố ý, hậu quả anh G không chết là ngoài ý muốn của bị cáo.
Với hành vi phạm tội và các chứng cứ nêu trên, có đủ căn cứ kết luận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc F về tội Giết người theo quy định tại điểm n khoản 1, Điều 123 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
.Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi đó trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi bị cáo đã thực hiện để trừng trị Bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã bồi thường toàn bộ tổn thất, thiệt hại cho bị hại tổng số tiền là 70 triệu đồng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú; bị hại anh Nguyễn Mạnh G có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, sau khi ly hôn bị cáo một mình nuôi bốn con nhỏ và nuôi mẹ già, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên cần được áp dụng đối với bị cáo.
Bị cáo cố ý thực hiện hành vi giết anh Nguyễn Mạnh G, việc anh G không chết là ngoài ý muốn của bị cáo, trường hợp phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần áp dụng Điều 15, Điều 57 của Bộ luật hình sự.
Với hành vi phạm tội của Bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi Bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị bị cáo và phòng ngừa chung. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thực hiện việc bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại anh Nguyễn Mạnh G số tiền 70 triệu đồng, anh G không có yêu cầu gì thêm khác nên Tòa không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ D quan: Bà Chu Thị R là mẹ của bị cáo không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 70 triệu đồng đã bồi thường thay cho bị cáo. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nội dung khác: Đối với con dao do F sử dụng chém anh G và chiếc mũ do anh G đội khi bị chém, Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng đến nay chưa thu giữ được, khi nào truy tìm được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn nộp án phí nên căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo F.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm n, khoản 1 điều 123; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Ngọc F phạm tội “ Giết người ”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc F 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2023.
[2] Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Ngọc F.
[3] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ D quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - VKSND TC; - Cơ quan CSĐT CA TP Hoà Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Cục THADS tỉnh Hòa Bình; - Bị cáo và Người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Đoàn |