vanban.org

Bản án 08/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 16/10/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 3 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HS-ST
Ngày: 29-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Mỡn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Lập.

Ông Huỳnh Văn Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lưỡng– Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ L, sinh năm 1998, tại huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1976 và bà Trần Thị T, sinh năm: 1979. Bị cáo chưa có vợ con; Em ruột: Nguyễn Quốc K, sinh 2002.

Tiền án: không.

Tiền sự: 01 tiền sự.

Ngày 05/04/2023 bị công an xã T, huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chưa nộp phạt.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ từ ngày 16/10/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Hoàng P– sinh năm:2000 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/10/2023, tại căn chòi của gia đình bị cáo Nguyễn Vũ L cặp Tỉnh lộ 907 thuộc ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp Công an xã T, kiểm tra, bắt quả tang bị cáo Nguyễn Vũ L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ: 01 túi ny lon trong suốt hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy.

Kết quả test nhanh ngày 16/10/2023 Nguyễn Vũ L dương tính với chất ma túy loại methamphetamine.

Tại kết luận giám định số 730/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận:

+ Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ny lon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,3371gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Vũ L khai: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên vào sáng ngày 16/10/2023 L tìm gặp mua ma túy đá với số tiền 500.000 đồng, của người tên H1 ở khu vực ao cá thuộc xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Khi mua ma túy xong, L mang về cất giấu trong căn chòi chứa lác của gia đình. Sau đó L nhắn tin điện thoại rủ Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 04/7/2000 ngụ ấp H, xã T, huyện V là bạn chơi chung đến chòi để sử dụng ma túy đá thì P đồng ý. Đến khoảng 12 giờ 50 phút ngày 16/10/2023 trong lúc L và P đang ở tại chòi thì lực lượng Công an vào kiểm tra bắt quả tang.

Đối với người tên H1 bán ma túy cho L, qua điều tra không xác định được họ tên và địa chỉ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh xử lý sau.

Về vật chứng vụ án:

Hiện còn đang tạm giữ: 01 phong bì được niêm phong mẫu vật hoàn trả số 730 ngày 18/10/2023; 01 điện thoai di động hiệu readme màu đen, 01 nỏ thủy tinh; 01 kéo kim loại màu trắng và số tiền 170.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 01/CT-VKSHVL ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long truy tố bị cáo Nguyễn Vũ L phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyeän Vuõng Lieâm phaùt bieåu lôøi luaän toäi, ñaùnh giaù tính chaát, möùc ñoä phaïm toäi vaø ñeà nghò Hoäi ñoàng xeùt xöû :

- Về trách nhiệm hình sự tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù .

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: AÙp duïng Ñieàu 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì được niêm phong mẫu vật hoàn trả số 730 ngày 18/10/2023; 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) kéo kim loại màu trắng.

Trả lại cho bị cáo:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Readme màu đen; số tiền 170.000 đồng (một trăm bảy mươi ngàn đồng).

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Vũ L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Vũ L khai nhận hành vi vào ngày 16/10/2023 tại tại căn chòi của gia đình Nguyễn Vũ L, bị cáo Nguyễn Vũ L đã tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,3371 gam bị bắt quả tang. Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng với hành vi của bị cáo và thống nhất với kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh V.

Xét lời khai của bị cáo tại tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó cáo trạng số 01/CT-VKSHVL ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm truy tố hành vi của bị cáo và lời luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ.

Töø nhöõng caên cöù neâu treân coù ñuû cô sôû khaùch quan keát luaän bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy ñònh taïi điểm c khoản 1 Điều 249 Boä luaät Hình söï.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Vũ L là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý chất ma túy của nhà nước và làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, mặc khác tội phạm về ma túy còn là nguồn gốc phát sinh nhiều tội phạm khác.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội đã nêu trên.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:

- Tình tiết tăng nặng: Về nhân thân bị cáo L có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

AÙp duïng Ñieàu 47 Bộ luật hình sự 2; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì được niêm phong mẫu vật hoàn trả số 730 ngày 18/10/2023; 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) kéo kim loại màu trắng.

Trả lại cho bị cáo:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Readme màu đen; số tiền 170.000 đồng (một trăm bảy mươi ngàn đồng).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Vũ L phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/-Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vũ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù .

Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 16/10/2023.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Vũ L.

2/- Về xử lý vật chứng:

AÙp duïng Ñieàu 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì được niêm phong mẫu vật hoàn trả số 730 ngày 18/10/2023; 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) kéo kim loại màu trắng.

Trả lại cho bị cáo:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Readme màu đen; số tiền 170.000 đồng (một trăm bảy mươi ngàn đồng).

(Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/12/2023).

3/- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 3, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Vũ L phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thì hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ./.

Cỡ chữ