vanban.org

Bản án 08/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mê Linh, TP. Hà Nội Tuyên án 18/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Phan Trọng H 18 (mười tám) tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước . Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Trọng Ha - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Phan Trọng H 18 (mười tám) tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HS-ST
Ngày 18/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân

: Ông Trần Văn Khánh

Bà Dương Thị Kim Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mê Linh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa:

Ông Đàm Duy Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Trọng H, sinh năm 1999 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá : Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Trọng M và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

-Anh Đỗ Ngọc M, sinh năm 1999, vắng mặt

Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện M, Hà Nội.

-Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1996, vắng mặt.

Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện M, Hà Nội.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000, vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện M, Hà Nội.

-Anh Đào Xuân P, sinh năm 1979, vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện M, Hà Nội.

-Ông Phan Trọng M, sinh năm 1973, có mặt

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện M, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Đỗ Văn T có mở cửa hàng kinh doanh “ Game Internet và mua bán điện thoại T&M” tại Khu 7, thôn T, xã Đ, huyện M, Hà Nội. Anh T bảo anh Đỗ Ngọc M là bạn đến quản lý và trông coi quán Internet. Tại cửa hàng anh T có để tủ bán điện thoại ở phòng bên ngoài, còn phòng bên trong để các máy chơi Game. Sáng ngày 14/10/2023, Phan Trọng H đến quán của anh T để chơi game. Tại đây, H ngồi chơi đến khoảng 15h25’ thì anh M nhờ H trông coi hộ phòng chơi Game, H đồng ý. Khi anh M vừa đi ra khỏi quán, H quan sát thấy chìa khóa tủ điện thoại để ở bàn máy tính nên đã nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại trong tủ kính đem bán lấy tiền tiêu sài. H liền lấy chìa khóa lên phòng để điện thoại mở tủ trộm cắp 03 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại Iphone 12 Promax loại 128Gb, 01 điện thoại Iphone 11 loại 64Gb và 01 điện thoại Iphone 8 Plus loại 64Gb. Sau đó, H đi bộ đến cửa hàng “ Thành Táo” của anh Nguyễn Văn T bán cho anh T 01 điện thoại Iphone 12 Promax loại 128Gb, 01 điện thoại Iphone 11 loại 64Gb vừa trộm cắp được với số tiền 15.000.000đ. Anh T trả cho H 600.000đ tiền mặt, số tiền còn lại 14.400.000đ anh T chuyển khoản cho H. Còn chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng H giữ lại sử dụng. Sau khi bán điện thoại H quay lại quán game của anh T nạp tiền để chơi game hết số tiền trên. Do không còn tiền, H lại nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H quan sát thấy chiếc xe mô tô Hon da Blade BKS 29Z1-737.80 của anh Đỗ Ngọc M dựng ở trước cửa quán, H đi ra bàn quầy lấy chìa khóa mở khóa điện rồi điều khiển đi lên thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc chơi. Đến khoảng 21h ngày 15/10/2023, H đi xe đến quán “ Vườn bia 88” của anh Đào Xuân P để hỏi vay tiền. Do biết H là người cùng khu nên anh P đồng ý cho H vay 5.000.000đ, H để lại chiếc xe máy cho anh P và hẹn sau 02 đến 03 ngày sẽ quay lại lấy xe. Có tiền H bắt ta xi đến xã K, huyện Đ tiếp tục chơi Game và tiêu sài hết toàn bộ số tiền trên. Đến ngày 23/10/2023, H bị Công an huyện Mê Linh bắt giữ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 99/KL – HĐ ngày 24/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Mê Linh kết luận:

-01 điện thoại Iphone 12 Promax loại 128Gb đã qua sử dụng có trị giá 12.500.000đ.

-01 điện thoại Iphone 11 loại 64Gb đã qua sử dụng có trị giá 6.000.000đ.

-01 điện thoại Iphone 8 Plus loại 64Gb đã qua sử dụng có trị giá 3.000.000đ.

-01 xe máy Honda Blade BKS 29Z1-737.80 đã qua sử dụng có trị giá 16.302.000đ.

Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt: 37.802.000đ.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã tóm tắt trên, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Người bị hại là anh Đỗ Ngọc M trình bày tại BL 148-160: Anh làm thuê tại cửa hàng Internet và sửa chữa, mua bán điện thoại T&M của anh Đỗ Văn T. Sáng ngày 14/10/2023, anh đi xe máy nhãn hiệu Honda Blade BKS 29Z1-737.80 đến quán làm và dựng xe trước cửa quán. Đến khoảng 12h cùng ngày, anh Thắng có việc đi cùng bạn nên giao cho anh trông coi quán. Đến khoảng 15h cùng ngày anh có việc phải về nhà nên anh có nhờ H đang chơi game trong quán trông hộ quán Game. Lúc này, anh vẫn để chìa khóa cửa hàng điện thoại và chìa khóa xe máy ở túi giấy trên bàn máy tính chủ. Khoảng 20’ sau anh quay lại thì không thấy H và xe máy của anh cũng bị mất. Đến khoảng 17h30’ cùng ngày, anh T đến kiểm tra thì phát hiện bị mất 03 chiếc điện thoại gồm 01 điện thoại Iphone 12 Promax loại 128Gb, 01 điện thoại Iphone 11 loại 64Gb và 01 điện thoại Iphone 8 Plus loại 64Gb. Sau khi kiểm tra camera, anh T phát hiện H là người lấy trộm những tài sản trên. Sau khi sự việc xảy ra, cơ quan điều tra Công an huyện Mê Linh đã thu hồi lại được toàn bộ tài sản do bị cáo chiếm đoạt trả lại cho anh. Nay anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự, anh đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhẹ hình sự cho bị cáo.

Người bị hại là anh Đỗ Văn T trình bày tại BL 135-147: Anh có mở cửa hàng kinh doanh Internet và sửa chữa, mua bán điện thoại T&M Mobile. Để thuận tiện cho việc kinh doanh anh có thuê Đỗ Ngọc M trông quán Internet cho anh vào ban ngày để anh sửa chữa, mua bán điện thoại ở phần cửa hàng ở bên ngoài. Sáng ngày 14/10/2023, anh có việc bận nên giao chìa khóa quán sửa chữa điện thoại và Internet cho anh M quản lý, chìa khóa anh để trong túi trên bàn máy tính chủ. Đến khoảng 17h30’ cùng ngày anh đến quán kiểm tra phát hiện bị mất 03 chiếc điện thoại gồm 01 điện thoại Iphone 12 Promax loại 128Gb, 01 điện thoại Iphone 11 loại 64Gb và 01 điện thoại Iphone 8 Plus loại 64Gb. Sau khi sự việc xảy ra, cơ quan điều tra Công an huyện Mê Linh đã thu hồi lại được toàn bộ 03 chiếc điện thoại nói trên trả lại cho anh. Nay anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự, anh đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhẹ hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T trình bày tại BL 166-172: Khoảng 15h40’ ngày 14/10/2023, Phan Trọng H có đến cửa hàng điện thoại của anh bán 02 chiếc điện thoại gồm: 01 điện thoại Iphone 12 Promax loại 128Gb, 01 điện thoại Iphone 11 loại 64Gb. Anh có hỏi nguồn gốc 02 chiếc điện thoại, H nói là điện thoại của H. Sau khi kiểm tra điện thoại, anh đồng ý mua 02 chiếc điện thoại với giá 15.000.000đ. Đến ngày 23/10/2023, Công an huyện Mê Linh có thông báo cho anh biết 02 chiếc điện thoại anh mua của H là do H trộm cắp mà có. Do đó, anh đã nộp lại 02 chiếc điện thoại cho Công quan để trả lại cho người bị hại. Đối với số tiền 15.000.000đ anh bỏ ra mua điện thoại, gia đình bị cáo H đã bồi thường cho anh đầy đủ. Nay anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự, anh đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhẹ hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đào Xuân P trình bày tại BL 179-187: Khoảng 20h30’ ngày 15/10/2023, H có đến quán “ Vườn bia 88” của anh hỏi vay số tiền 5.000.000đ và H có để lại chiếc xe máy Honda Blade BKS 29Z1-737.80 để làm tin. H hẹn 2 đến 3 ngày sau đến trả tiền và lấy xe máy. Anh có hỏi H xe máy của ai, H nói xe của H nhưng hiện bố mẹ giữ giấy tờ. Đến ngày 23/10/2023, anh được Công an xã Đ thông báo chiếc xe máy trên là do H trộm cắp mà có nên anh đã giao lại cho Công an để trả cho người bị hại. Đối với số tiền 5.000.000đ anh cho H vay, gia đình H đã bồi thường đủ cho anh. Nay anh không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phan Trọng M trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo Phan Trọng H, sau khi sự việc xảy ra bị cáo H đã tác động nhờ gia đình đứng ra bồi thường cho những người mà H đã chiếm đoạt tiền không trả được. Ông đã trực tiếp trả cho anh T số tiền 15.000.000đ và anh M số tiền 5.000.000đ. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhẹ hình sự cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 02/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố bị cáo, về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, về tội “ Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự .

-Xử phạt: Phan Trọng H mức án từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

-Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

-Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

-Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mê Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 14/10/2023, tại thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội, Phan Trọng H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại Iphone 12 Promax loại 128Gb, 01 điện thoại Iphone 11 loại 64Gb và 01 điện thoại Iphone 8 Plus loại 64Gb của anh Đỗ Văn T có trị giá 21.500.000đ và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade BKS 29Z1-737.80 của anh Đỗ Ngọc M có trị giá 16.302.000đ. Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt có trị giá 37.802.000đ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực tác động nhờ gia đình đứng ra bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo là đối tượng ham chơi, lười lao động, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn bị cáo đã liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy mặc dù xét nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nhưng căn cứ vào tính chất vụ án thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Phan Trọng H 18 (mười tám) tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước .

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Cỡ chữ