vanban.org

Bản án 08/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 26/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H và đp - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt dưới khung
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HS-ST
Ngày: 26/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Phung- Cán bộ hưu trí

Ông Hoàng Văn Lợi- Phó phòng giáo dục huyện Lộc Ninh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Cao Thanh Nam- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H, sinh ngày 03/11/1993, tại Hải Dương; tên gọi khác: không; Nơi cư trú: ấp Hòa Cường, xã Minh Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Hoàn và bà Tống Thị Khương; Vợ Trần Thị Mỹ Hạnh. Bị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: không.

Bi tạm giữ từ ngày 14/5/2023 đến ngày 23/5/2023 tạm giam.

Ngày 26/6/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam bằng biện pháp đặt tiền để đảm bảo (số tiền đảm bảo 200.000.000đ).

2. Hồ Duy T, sinh ngày 16/12/1993, tại Bình Phước; tên gọi khác:không; HKTT: ấp 1, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Tạm trú số 01, đường Đ3, khu dân cư K8, phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Sửa xe ô tô; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Long và bà Nguyễn Thị Hoa; Vợ Nguyễn Phương Anh. Bị cáo có 02 người con lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: không.

Bi tạm giữ từ ngày 14/5/2023 đến ngày 23/5/2023 tạm giam.

Ngày 24/6/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam bằng biện pháp đặt tiền để đảm bảo (số tiền đảm bảo 200.000.000đ)

3. Phạm Ngọc Gi, sinh ngày 16/12/2006, tại Bạc Liêu; tên gọi khác: Thùy, Linh; HKTT: ấp Phước Thuận 1, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu; Tạm trú: khu phố Ninh Thịnh, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không.; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Sang ( chết) và bà Phạm Thị Diễm (chết); Tiền án: Không; Tiền sự: không.

Bi tạm giữ từ ngày 14/5/2023 đến ngày 23/5/2023 tạm giam cho đến nay.

Người đại diện theo pháp luật: Phạm Thanh Dễ, sinh năm 2000 (Anh trai bị cáo) có mặt

Nơi cư trú: ấp Phước Thuận 1, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Dương Tất Phú- Trợ giúp viện pháp lý-Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Phước (có mặt)

4. Hoàng Mai Trúc L, sinh ngày 02/5/2002, tại Đồng Nai; tên gọi khác: Ly; Nơi cư trú: 100D/10 khu phố 9, phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Công Nghĩa và bà Trịnh Thị Phương Dung; Tiền án: Không; Tiền sự: không.

Bi tạm giam từ ngày 14 tháng 8 năm 2023 cho đến nay. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Phạm Thanh A, sinh năm 1988, Huỳnh Phương Liên, sinh năm 1993 (có mặt)

Cùng nơi cư trú: Ấp Hiệp Quyết, Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

-Nguyễn Thành D, sinh năm 2007 (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: KP Ninh Phú,TT Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, Bình Phước.

Người làm chứng:

- Dương Thái H, sinh năm 1992

HKTT: Xóm 1, thôn Trung Hiệp, xã Mỹ Chánh Tây, huyện Phú Mỹ, tỉnh Bình Định.

Nơi ở: 225/2 Trương Định, phường Hiệp Thành, Tp Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Bùi Tiến Đ, sinh năm 2001

HKTT: Thôn Phú Văn, xã Nghĩa Trung, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

- Lê Quốc D, sinh năm 1999

Địa chỉ: Ấp 2A, xã Tân Thạnh Tây, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh

- Trần Thái B, sinh năm 1985

Địa chỉ: Khu 4, phường Phú Lợi, Tp Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

- Văn Thị Tuyết V, sinh năm 2007

Địa chỉ: Ấp 7, xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

-Thạch Thị Thiên N, sinh năm 2004

Địa chỉ: ấp Hương Phụ A, xã Đa Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Nguyễn Hoàng A, sinh năm 2003

Địa chỉ: Khu phố Thống Nhất 1, phường Dĩ An, Tp Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 14 giờ 00 phút, ngày 14/5/2023, sau khi dự đám giỗ tại nhà Hồ Duy T tại ấp 1, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Văn H cùng với Hồ Duy T, Dương Thái H; Bùi Tiến Đ, Lê Quốc D và Trần Thái B đi xe ô tô đến quán karaoke Song Nhi thuộc thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước để hát karaoke.

Hát được khoảng hơn một tiếng, Hưởng hỏi nhân viên trong quán có bán thuốc lắc không, nhân viên quán nói ở đây không cho chơi. Sau đó, Hưởng điều khiển xe ô tô bán tải, nhãn hiệu Ford, biển số 61A-577.97 chở Đạt và Tân còn Dương điều khiển xe ô tô, nhãn hiệu Toyota, loại Innova, biển số 51G-800.69 chở Hiển và Bảo đến quán karaoke Huy Hoàng thuộc ấp 1B, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Khi đến quán, Tân mượn xe ô tô của Hưởng đi về nhà, còn Hưởng vào gặp Nguyễn Thành D, sinh năm: 2007 là nhân viên phục vụ quán, Hưởng hỏi Danh “Ở đây có karaoke và massage hả”, Danh nói “Có”, Hưởng hỏi Danh là “Ở đây có cho bay không”, Danh nói “Có”, Danh hỏi Hưởng là “Có chơi lâu không”, Hưởng nói là chơi một lúc rồi về, Danh nói giá là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) và cho thu tiền trước. Hưởng hỏi Danh “Ở đây có bán đồ luôn không?” Danh nói là ở đây không bán, nói Hưởng tự mua. Hưởng không có tiền mặt để trả tiền thuê phòng chơi ma túy nên hỏi Danh số tài khoản để chuyển khoản. Danh đọc số tài khoản 050091451473 của ngân hàng Sacombank mang tên Huỳnh Phương Liên vợ của Phạm Thanh A ( quản lý quán) Hưởng chuyển số tiền 3.000.000 đồng xong, Danh nói Hưởng là đã nhận được tiền rồi và Danh dẫn Hưởng, Hiển, Đạt, Dương vào phòng 807 thuộc quán Huy Hoàng rồi Hưởng ra ngoài đi vệ sinh. Sau khi dẫn khách vào phòng, Danh lấy cái giỏ đựng 05 chai nước suối, 05 lon nước ngọt hiệu Pepsi, 05 lon nước ngọt hiệu Sting, 10 cái khăn ướt, ly uống nước, xô đá và Danh biết khách sử dụng phòng bay nên Danh mang 04 cái mền, 01 cái nệm màu đỏ, 04 cái gối vào phòng 807.

Sau đó, Hưởng gọi điện thoại bằng ứng dụng mạng xã hội Zalo, cho một người con gái tên Zalo là “Kim Susu” ở thị xã Bình Long, Hưởng quen biết ngoài xã hội mua ma túy, do ở Lộc Ninh xa nên “Kim Susu” cho số điện thoại để Hưởng liên lạc mua ma túy. Sau đó Hưởng thấy người thanh niên (không xác định được nhân thân, lai lịch, khoảng 20 tuổi) đưa cho Hưởng 02 bịch nylon, khóa miết, chứa ma túy khay và 01 bịch nylon chứa 02 viên thuốc lắc, Hưởng hỏi hết bao nhiêu tiền, người thanh niên nói 6.150.000 đồng. Do Hưởng hết tiền nên Hưởng vào phòng hỏi Đạt và Hiển nhưng không có tiền, Hưởng nói với Tân và Dương trả tiền cho người giao ma túy. Hưởng lấy ma túy vào phòng trước, ai là người trả tiền thì Hưởng không rõ.

Tại phòng 807 Hưởng lấy 02 viên thuốc lắc, là ma túy, loại MDMA cắn ra làm đôi, Hưởng sử dụng bằng hình thức bỏ vào miệng uống rồi còn lại 03 phần Hưởng đưa cho Tân, Đạt, Hiển sử dụng, sử dụng thuốc lắc là ma túy, loại MDMA xong, Tân nói sao không có “đào”, Hưởng nói để kêu quán rồi Hưởng ra ngoài nói Danh gọi cho 04 tiếp viên nữ. Sau đó, Hưởng lấy 01 bịch nylon chứa ma túy, loại Ketamine cất vào túi quần sau bên phải và lấy 01 bịch ma túy, loại Ketamine đổ lên tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng rồi dùng quẹt hơ phía dưới, bị cháy tờ tiền, ma túy bị đổ một ít dưới nệm nên Hưởng đổ ma túy, loại Ketamine vào đĩa sứ và bỏ tờ tiền và bịch nylon miệng kéo dính lên bàn bên tay phải, lúc này Hưởng lấy tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn tròn rồi dùng đầu lọc thuốc lá cố định hai đầu lại thành ống hút để sử dụng ma túy, Hưởng sử dụng ma túy, loại Ketamine bằng cách dùng thẻ nhựa kẻ ma túy thành từng đường rồi dùng ống hút hít vào mũi, Hưởng sử dụng một hơi rồi để đĩa ma túy, loại Ketamine xuống nệm cho những người trong phòng sử dụng nhưng không biết thứ tự ai sử dụng.

Một lúc sau Văn Thị Tuyết V sinh năm 2007 đến ngồi với Đạt và Phạm Ngọc Gi ngồi với Tân. Một lúc sau, Hoàng Mai Trúc L, ngồi với Dương còn Thạch Thị Thiên N ngồi với Hưởng. Khi vào thì mọi người xoay vòng sử dụng ma túy khay bằng cách chuyền tay nhau đĩa sứ chứa ma túy, loại Ketamine và dùng ống hút được làm bằng tờ tiền để hít ma túy, loại Ketamine bằng mũi.

Ngồi chơi một lúc, Tân nói với Phạm Ngọc Gi là lấy giúp thêm 02 viên kẹo (thuốc lắc là ma túy, loại MDMA), Giào ra ngoài gọi điện thoại cho người thanh niên tên Tý Đạt (không xác định được nhân thân, lai lịch) nhưng gọi không được. nên nhờ Lê gọi cho Tý Đạt để mua ma túy (thuốc lắc).

Lúc này, Tân cầm đĩa ma túy, loại Ketamine lên tự kẻ rồi dùng ống hút hít một đường xong đưa đĩa ma túy qua cho Hưởng đĩa ma túy bị rớt xuống, ma túy đổ xuống nệm, Tân cùng Giào hốt lại ma túy bị đổ rồi Tân nói với Giào lấy giùm Tân nửa hộp với 02 con (ý là lấy nửa hộp ma túy, loại Ketamine và 02 viên thuốc lắc là ma túy, loại MDMA). Giào nói với Lệ là gọi Tý Đạt lấy thêm nữa hộp 5 nên Lệ nhắn tin cho Tý Đạt là “nữa hộp với 02 con” nghĩa là nữa hộp ma túy, loại Ketamine và 02 viên thuốc lắc là ma túy, loại MDMA. Sau đó, Giào gọi điện thoại cho Tý Đạt nói lấy 02 viên kẹo và nữa hộp ma túy, Tý Đạt nói “ok” và hỏi giao xuống đâu thì Giào nói giao ở quán Huy Hoàng. Một lúc sau, Tý Đạt đến quán và gọi Giào ra lấy ma túy nên Giào nói với Tân “Đồ tới rồi đưa tiền ra lấy”, Tân đưa tiền cho Giào số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) và kêu Giào lấy ma túy giùm. Giào đưa tiền cho Tý Đạt, Tý Đạt đưa 01 bịch ma túy, loại Ketamine và 01 bịch chứa 02 viên ma túy thuốc lắc là ma túy, loại MDMA cho Giào và Giào mang ma túy vào phòng. Giào lấy 01 bịch ma túy, loại Ketamine khui ra và đổ ma túy lên tờ tiền 2.000 đồng để trong đĩa sứ rồi dùng quẹt đốt nóng dưới tờ tiền rồi đổ ma túy khay lên đĩa sứ đưa cho Thạch Thị Thiên N hít. Sau đó, Giào tiếp tục dùng quẹt đốt dưới đít đĩa sứ và cầm thẻ nhựa xào ma túy trong đĩa, rồi Giào kẻ những đường ma túy trên đĩa để cho Ngân hít rồi đến Tân, rồi đến Văn Thị Tuyết V, rồi đến Đạt hít sau đó để đĩa ma túy xuống nệm. Lúc này, Dương đứng dậy đi về, Lệ đi theo ra ngoài, Dương đưa cho Lệ số tiền 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) tiền típ (tiền bo) cho Lệ, Giào, Vân, Ngân, sau đó Lệ đi vào phòng đếm tiền rồi đưa cho Giào, Vân, Ngân mỗi người 600.000 đồng và giữ lại 1.000.000 đồng.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Công an huyện Lộc Ninh phối hợp với Công an thị trấn Lộc Ninh vào kiểm tra phát hiện bắt quả tang có 08 người trong phòng đang sử dụng ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- 01 cái đĩa sứ màu trắng đường kính 23,5cm. Bên trên cái đĩa này có chứa: chất bột màu trắng;01 thẻ nhựa màu vàng có ghi chữ HERMES PARIS kích thước (8,5x5,5)cm; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành hình dạng ống hút dài 14 cm và 02 đầu tờ tiền được gắn 02 đầu lọc thuốc lá và tờ tiền nệnh giá 2.000 đồng bên trên tờ tiền có bám dính chất bột màu trắng;01 bịch nylon đầu khóa miết kích thước (7x4)cm bên trong có chứa 02 (hai) viên nén màu nâu hình con cá;01 bịch nylon đầu khóa miết kích thước (3,5x4,5)cm bên trong có chứa chất rắn màu trắng;02 bịch nylon đầu khóa miết kích thước (3x4,5)cm và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng; 03 hộp quẹt ga

-01 bịch nylon màu trắng đầu khóa miết bên trong chứa chất rắn màu trắng (thu trên người Hưởng).Ngoài ra còn thu giữ một số tài sản khác như điện thoại di động xe ô tô và giấy tờ tùy thân, giấy đăng ký xe… những vật chứng có liên quan đến ma túy được niêm phong và gửi đi giám định.

-Căn cứ bản kết luận giám định số: 537/KL(MT)-KTHS ngày 19/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận như sau:

- Chất bột màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đi giám định là ma túy loại Ketamine, có khối lượng là 0,8622 gam.

- Chất màu trắng bám dính dạng vết trên bề mặt đĩa sứ màu, thẻ nhựa và tờ tiền (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đi giám định là ma túy loại Ketamine, Mẫu không xác định được khối lượng.

- Chất bám dính dạng vết trên 01 tờ tiền mệnh giá 2.000VNĐ màu trắng (ký hiệu M3) được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Ketamine. Mẫu không xác định được khối lượng.

- 02 viên nén màu nâu hình dạng con cá (ký hiệu M4) được niêm phong gửi giám định là Ma tú Methamphetamine và loại MDMA, có khối lượng là 0,7055 gam.

- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M5) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 0,5834 gam.

- Chất bám dính dạng vết bên trong túi nylon và bề mặt tờ tiền (ký hiệu được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Ketamine mẫu không xác định được khối lượng.

- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M7) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 1,4554 gam.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H và Hồ Duy T khai nhận: Ngày 14/5/2023, sau khi dự đám giỗ ở nhà của Tân, khoản 14 giờ cùng ngày Hưởng nói với Tân “đi làm một tí” Tân hiểu ý là Hưởng rủ Tân đi bay lắc, nên Tân đồng ý và cùng đi có Dương điều khiển xe ô tô 7 chỗ chở Bảo, Hiển, Hưởng điều khiển xe ô tô bán tải chở Tân, Đạt, ban đầu tất cả đến quán Karaoke Song Nhi hát được gần 01 tiếng Hưởng hỏi quán có tổ chức bay lắc và bán ma túy không? Do quán nói không có nên Hưởng biết trên Huy Hoàng thuộc ấp 1, xã Lộc Tấn có cho bay lắc nên Tân tính tiền ở quán Karaoke Song Nhi sau đó Hưởng nói đi lên Huy Hoàng. Hưởng điều khiển xe ô tô biển số 61A-577.97 chạy trước chở theo Tân và Đạt, còn Dương điều khiển xe ô tô biển số 51G-80069 theo sau có chở Bảo và Hiển đến quán karaoke Huy Hoàng thuộc ấp 1B, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh. Khi đến quán Huy Hoàng, Tân mượn xe Hưởng chạy về nhà ở Lộc Thái. Hưởng trực tiếp liên hệ với Nguyễn Thành D để lấy 01 phòng bay lắc. Danh yêu cầu phải trả trước tiền thuê phòng 3.000.000đ. Hưởng thanh toán qua hình thức chuyển tiền vào tài khoản của Liên vợ An sau khi chuyển tiền thành công, Danh đưa Hưởng, Tân, Hiển, Dương vào phòng và nhờ Danh gọi 4 tiếp viên phục vụ sử dụng ma túy. Sau đó Hưởng liên lạc với người bán ma túy được người thanh niên (không rõ nhân thân) giao ma túy với số tiền 6.150.000đ. Hưởng đem ma túy vào phòng chuẩn bị dụng cụ sử dụng, sau đó Giào, Lệ, Ngân và Vân cũng đến vừa phục vụ và cùng với Hưởng, Hiển, Tân và Đạt sử dụng ma túy đến khoảng 19 giờ bị Công an phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bản cáo trạng số: 76/CT-VKS, ngày 16/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hồ Duy T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phạm Ngọc Gi, Hoàng Mai Trúc L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H, Hồ Duy T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Bị cáo Phạm Ngọc Gi, Hoàng Mai Trúc L phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, Điều 17,58 Điều 54, 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Nguyễn Văn H 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt chung từ 05 năm đến 05 năm 09 tháng tù.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, Điều 17,58 Điều 54, 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Hồ Duy T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hồ Duy T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt chung 05 năm đến 05 năm 09 tháng tù.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, Điều 17,58, khoản 1 Điều 54, 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử Phạt Hoàng Mai Trúc L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17,58 khoản 2 Điều 54, 91,101 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Phạm Ngọc Gi 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Người bào chũa cho bị cáo Giào bào chữa như sau:

Thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh. Tại phiên tòa công khai, bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ. Chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đó là:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất đáng thương. Cha mẹ đều mất sớm, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế vai trò của bị cáo thứ yếu chỉ là người gọi điện thoại liên lạc mua hộ ma túy cho Tân. Do vậy, khi xét xử đề nghị áp dụng Điều 90, khoản 1 Điều 91 quy định nguyên tắc xét xử người chưa thành niên chủ yếu nhằm mục đích giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh giúp họ trở thành công dân tốt, từ phân tích trên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 91, 101,54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp nhất có thể. Bị cáo Giào thống nhất phần bào chữa của ông Dương Tất Phú và không bổ sung gì thêm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo Hưởng đề nghị hội đồng xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo còn 03 con nhỏ, hoản cảnh rất khó khăn, mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình. Bị cáo Tân, Giào, Lệ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, bị cáo Hưởng, Tân, Giào, Lệ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian và địa điểm nơi xảy ra vụ án, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở khách quan để kết luận:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/5/2023 Nguyễn Văn H và Hồ Duy T đã tổ chức cho Hiển, Đạt, Giào sinh năm 2006, Lệ, Ngân, Vân sinh năm 2007 sử dụng ma túy tại phòng số 807 quán Karaoke Huy Hoàng. Trong quá trình sử dụng do Tân muốn mua thêm ma túy để tất cả cùng sử dụng và không biết chỗ mua nên có nhờ Giào liên hệ mua, Giào nhân lời và gọi điện thoại cho Tý Đạt nhưng không liên lạc được, Giao đã hỏi Lệ và nhờ Lệ gọi. Khi Lệ gọi được đã chuyển máy cho Giào để nói chuyện, đồng thời do tiếng nhạc ồn nên Giào và Lệ gọi nhiều lần, kể cả nhắn tin, cuối cùng cũng mua được 2 viên thuốc lắc và ma túy khay. Khi người bán ma túy đến giao hàng Giào là người nhận ma túy và Tân đưa tiền cho Giào trả. Hành vi của Giào và Lệ thỏa mãn điều kiện để xác định là đồng phạm với Hưởng và Tân về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, cũng cần phân tích vai trò của từng bị cáo để phân hóa hình phạt. Đối với Hưởng và Tân sau khi dự tiệc xong tại nhà Tân thì Hưởng có nói với Tân đi làm một tí ( Tân hiểu là đi tìm nơi sử dụng ma túy) nên đồng ý, và cả hai cùng với Bảo, Dương, Hiển, Đạt cùng đi. Ban đầu đến quán Karaoke Song Nhi hát được 01 tiếng do ở đây không cho sử dụng ma túy nên Hưởng nói đi chỗ khác (Huy Hoàng). Khi đến nơi, Hưởng trực tiếp liên hệ phòng bay lắc, sau đó gọi cho bạn mua ma túy, còn Tân đi về nhà một lúc sau hỏi Đạt có ma túy chưa và quay lại khi đến Huy Hoàng, có người đem ma túy đến giao cho Hưởng còn Tân là người thanh toán tiền 6.150.000đ, sau đó Tân chủ động nhờ Giào mua thêm 3.000.000đ ma túy để tiếp tục cho nhiều người sử dụng. Vai trò chính trong vụ án là Hưởng và Tân. Đối với Giào và Lệ vì là người được gọi đến để phục vụ sử dụng ma túy.Về ý thức trước khi đến Giào, Lệ, Ngân, Vân đề biết là khách gọi đến để sử dụng ma túy chung và sẽ được trả tiền công (gọi là tiền bo). Do biết số điện thoại người bán ma túy nên khi được Tân nhờ, Giào đã nhận lời. Do Giào không liên lạc được nên nhờ Lệ. Hành vi môi giới cho người mua và bán ma túy của Giào và Lệ làm cho có thêm nguồn ma túy cho cả nhóm chơi do vậy Giào và Lệ liên đới chịu trách nhiệm hình sự cùng với Hưởng và Tân về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tuy nhiên, vai trò của Giào và Lệ là thứ yếu, trong lúc phục vụ và cùng sử dụng ma túy, được nhờ hỏi mua các bị cáo không nghĩ đến hậu quả và cũng không biết được hành vi của mình phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Giào khi phạm tội 16 tuổi 11 tháng 2 ngày.

Số ma túy còn lại được thu giữ tại phòng hát Karaoke và trong túi quần của Hưởng có nguồn gốc do Hưởng và Tân mua vào ngày 14/5/2023, sau khi đã sử dụng, phần còn lại sau khi giám định có khối lượng của Hưởng là 1,4554 gam ma túy loại Ketamine. Ma túy Tân mua sau khi sử dụng còn lại có khối lượng 0,8622+ 0,5834 gam ma túy, loại Ketamine và 02 viên thuốc lắc có khối lượng 0,7055 gam ma túy loại MDMA mục đích chỉ để sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác do vậy bị cáo Hưởng và Tân còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Hồ Duy T, Phạm Ngọc Gi, Mai Thị Trúc Lệ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Nguyễn Văn H, Hồ Duy T “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, hành vi sử dụng ma túy là một trong những tệ nạn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bản thân bị cáo, tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội, bị cáo biết rõ việc sử dụng và tàng trữ chất ma túy bị pháp luật cấm, người vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật nhưng vì nghiện bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên cần có một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo.Tại thời điểm phạm tội và trong phiên tòa, các bị cáo Hưởng, Tân, Lệ có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo Giào là người chưa thành niên nhưng thuộc trường hợp vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Ngân, Vân, Hiển, Đạt đã bị Công an huyện Lộc Ninh xử phạt hành chính nên hội đồng xét xử không đề cập.

Xét về nhân thân:

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có tiền án, tiền sự,

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Hưởng và Tân sau khi bị bắt tạm giam và được cho bảo lĩnh đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, sau khi thay đổi biện pháp ngăn chặn đã lập công chuộc đó là cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra phát hiên tội phạm đã khởi tố 02 bị can được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t,u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.Tương tự bi cáo Lệ trong qu1 trình điều tra, đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, sau khi thay đổi biện pháp ngăn chặn đã lập công chuộc đó là cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra phát hiên tội phạm các bị cáo được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh thông báo cho tòa án về các tình tiết này.

Do bị cáo Hưởng, Tân, Lê có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu không phải là người nghiêm ma túy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt dưới khung là có căn cứ.

Bị cáo Giào có nhân thân tốt đồng phạm với vai trò thứ yếu khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 02 ngày nên được hội đồng xét xử áp dụng chương XII Bộ luật hình sự quy định về xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa bản thân trở thành công dân tốt. Do vậy, cần áp dụng khoản 2 Điều 54 xử phạt dưới khung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh và ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Giàu đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt đối với các bị cáo như trong bản luận tội, bào chữa là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử, được chấp nhận.

- Đối với Nguyễn Thành D, Phạm Thanh A, Huỳnh Phương Liên, qua diễn biến phiên tòa cùng với tài liệu thu thập có trong hồ sơ nhân thấy có dấu hiện của tội” chứa chấp sử trái phép dụng ma túy ” theo Điều 256 Bộ luật hình sự. Rõ nhất là Nguyễn Thành D là người biết rõ Hưởng thuê phòng để tổ chức sử dụng ma túy và chính Danh là người xếp phòng, cung cấp một số vật dụng và thu tiền thông qua việc cung cấp tài khản của Liên) vợ An. Tuy nhiên, Nguyễn Thành D sinh ngày 13/10/2007, tại thời điểm thực hiện hành vi Danh chưa đủ 16 tuổi. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của Nguyễn Thành D không phải chịu trách nhiệm hình sự và đã có văn bản đề nghị Công an huyện Lộc Ninh áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng. Công an huyện Lộc Ninh đang lâp hồ sơ nhưng hiện tại Nguyễn Thành D rời khỏi địa phương. Tại phiên tòa, An và Liên thừa nhận Danh là người làm công cho An và Liên, nhưng không thừa nhận hành vi chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy, lẽ ra cần thiết trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ hành vi An có vi phạm pháp luật hay không, nhưng do hiện tại Danh bỏ trốn khỏi địa phương do vậy cần tách ra khi nào tìm được Danh để áp dụng biện pháp xử lý chính cơ quan điều tra cần tiếp tục điều tra xác minh, trách bỏ lọt tội phạm.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 03 phong bì có ký hiệu M1, M5, M7 dán kín, bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước và chữ ký của các thành phần tham gia, bên trong là mẫu hoàn lại sau khi giám định có khối lượng M1= 0,6875 gam, M5 = 0,4274 gam, M7 = 1,2474 gam được cho 03 gói nylon khóa miết, không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 hộp giấy, ký hiệu M2, kích thước (7x27x22,5)cm, bên trong là 01 cái đĩa sứ màu trắng, đường kính 23,5cm; 01 thẻ nhựa màu vàng, có ghi chữ HERMES PARIS, kích thước (8,5x5,5)cm; 01 tờ tiền, mệnh giá 20.000 đồng, được cuộn tròn thành hình dạng ống hút dài 14 cm và 02 đầu tờ tiền được gắn 02 đầu lọc thuốc lá; dán kín, bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước và chữ ký của các thành phần tham gia là mẫu hoàn lại sau khi giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 phong bì, có ký hiệu M3, dán kín; bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước và chữ ký của các thành phần tham gia, bên trong là tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng là mẫu hoàn lại sau khi giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 phong bì, ký hiệu M4, bên trong đựng 02 (hai) viên nén màu nâu hình con cá có trong 01 bịch nylon đầu khóa miết kích thước (7x4)cm đã sử dụng hết cho giám định nên không đề cập xử lý.

- Đối với 01 phong bì, ký hiệu M6, bên trong đựng 02 bịch nylon đầu khóa miết kích thước (3x4,5)cm và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng là mẫu hoàn lại sau khi giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 03 quẹt ga, màu trắng là công cụ các bị can dùng để đốt đĩa và hơ tiền có ma túy, không có giá trị sử dụng. Cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 13, màu đồng của Nguyễn Văn H; điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS Max của Phạm Ngọc Gi; điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, màu xanh của Hoàng Mai Trúc L và số tiền thu giữ của Lệ, Giào,Ngân,Vân tổng cộng 2.8000.000 liên quan trực tiếp đến vụ án. Cần tịch thu, sung Ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Hồ Duy T, Phạm Ngọc Gi, Hoàng Mai Trúc L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Văn H, Hồ Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

2.Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54,38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Nguyễn Văn H 01 năm tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tổng hợp hình phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 05 (Năm) năm. Thời gian tù tính từ ngày đi chấp hành án. Trừ thời gian tạm giam từ ngày 14/5/2023 đến 26/6/2024

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, Điều 17,58 ,khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Hồ Duy T 04 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Hồ Duy T 01 năm tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tổng hợp hình phạt: Bị cáo Hồ Duy T phải chấp hành hình phạt chung là 05 (Năm) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày đi chấp hành án. Trừ thời gian tạm giam từ ngày 14/5/2023 đến 24/6/2024.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s,t,u khoản 1 Điều 51, Điều 17,58, khoản 1,2 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Hoàng Mai Trúc L 03 (ba) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 14/8/2023.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 17,58, khoản 2 Điều 54 , Điều 90, khoản 1 Điều 91,101 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Phạm Ngọc Gi 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời gian tính tù từ ngày 14/5/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Mai Trúc Lê, Phạm Thị Giào 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 106, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì có ký hiệu M1, M5, M7, dán kín; bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước và chữ ký của các thành phần tham gia, bên trong là mẫu hoàn lại sau khi giám định có khối lượng M1= 0,6875 gam, M5 = 0,4274 gam, M7 = 1,2474 gam được cho 03 gói nylon khóa miết.

- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy, ký hiệu M2, kích thước (7x27x22,5)cm, bên trong là 01 cái đĩa sứ màu trắng, đường kính 23,5cm; 01 thẻ nhựa màu vàng, có ghi chữ HERMES PARIS, kích thước (8,5x5,5)cm;

- Tịch thu tiêu hủy 03 quẹt ga, màu trắng là công cụ các bị cáo dùng để đốt đĩa và hơ tiền có ma túy.

- Đối với 01 phong bì, có ký hiệu M3, dán kín; bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước và chữ ký của các thành phần tham gia, bên trong là tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng là mẫu hoàn lại sau khi giám định. Đối với tờ tiền 2.000đ tịch thu sung ngân sách nhà nước, các vật chứng còn lại tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 phong bì, ký hiệu M6, bên trong đựng 02 bịch nylon đầu khóa miết kích thước (3x4,5)cm và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng là mẫu hoàn lại sau khi giám định. Đối với tờ tiền 5.000đ tịch thu sung ngân sách nhà nước, các vật chứng còn lại tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 tờ tiền, mệnh giá 20.000 đồng, được cuộn tròn thành hình dạng ống hút dài 14 cm và 02 đầu tờ tiền được gắn 02 đầu lọc thuốc lá dán kín, bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước và chữ ký của các thành phần tham gia là mẫu hoàn lại sau khi giám định. Đối với tờ tiền 20.000đ tịch thu sung ngân sách nhà nước, các vật chứng còn lại tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 phong bì, ký hiệu M4, bên trong đựng 02 (hai) viên nén màu nâu hình con cá có trong 01 bịch nylon đầu khóa miết kích thước (7x4)cm đã sử dụng hết cho giám định nên không đề cập xử lý.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 13, màu đồng của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS Max của Phạm Ngọc Gi; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, màu xanh của Hoàng Mai Trúc L và số tiền thu giữ của Lệ, Giào, Ngân, Vân tổng cộng 2.8000.000

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0007042 và 0007043 cùng ngày 23/01/2024 của Chi cục thi hành án huyện Lộc Ninh và lệnh thanh toán ngày 24/01/2024)

Đối với số tiền đặt bảo lĩnh của Nguyễn Văn H và Hồ Duy T sẽ được xem xét xử lý từ thời điểm các bị cáo đi chấp hành án.

4. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản ántrong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan do vắng mặt tại phiên tòa, thời gian kháng cáo tính từ này nhận được bản án hoặc niên yết theo quy định.

Cỡ chữ