- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lục Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đưa
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/HNGĐ. Ngày 07/03/2024. “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Ngọc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khắc Dũng và ông Nguyễn Thế Hằng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên Tòa: Ông Hồ Quốc Nam.
Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên toà: Bà Giản Thị Chung, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 07/03/2024, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện EaKar, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 355/2023/TLST – HNGĐ, ngày 04/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp vê nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/HNGĐ – ST, ngày 22/01/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 08/2024/QĐST – HNGĐ ngày 20/02/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lục Thị C. Sinh năm: 1989. Nơi cư trú: Thôn 2, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Sằm Văn B. Sinh năm: 1989. Nơi cư trú: Thôn 2, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn thay đổi nội dung khởi kiện nguyên đơn bà Lục Thị C trình bày:
Tôi và ông Sằm Văn B là vợ chồng, chúng tôi chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện E vào ngày 21/12/2015.
Sau khi về chung sống vợ chồng tôi sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông B không lo làm kinh tế gia đình, không quan tâm đến gia đình, thường xuyên đi chơi, uống rượu say xỉn. Ông B thường xuyên đánh đập tôi, mặc dù đã được gia đình động viên yêu cầu đoàn tụ, nhưng ông B vẫn chứng nào tật đó không thể thay đổi được. Vào năm 2018 tôi và ông B đã ly thân từ thời gian đó đến nay, trong thời gian ly thân chúng tôi không còn liên lạc gì với nhau. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài cuộc sống chung nên tôi đề nghị tòa án nhân dân huyện Ea Kar giải quyết cho tôi ly hôn với ông Sằm Văn B
Về con chung: Trong thời gian chung sống tôi và ông B có 02 con chung là cháu Sằm Đức H, sinh ngày 05/7/2013 và cháu Sằm Văn H, sinh ngày 17/10/2014. Tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc hai cháu đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Sằm Văn B, sau khi thụ lý và quá trình giải quyết Tòa án triệu tập đến Tòa làm việc để giải quyết vụ án nhưng ông B không chấp hành hợp tác để giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông B vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Do đó, vụ án không thể tiến hành hòa giải được. Căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ngày 20 tháng 01 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Ea Kar tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án, bị đơn ông B vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 1 Điều 227, Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự. HĐXX quyết định hoãn phiên toà.
Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông B vắng mặt không có lý do.
HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Phát biểu quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý, đến khi xét xử, Thẩm phán tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, như lập hồ sơ vụ án, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, tống đạt văn bản tố tụng và quyết định của Tòa án cho đương sự, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định, thành phần Hội đồng xét xử và trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định của pháp luật. Còn đối với bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án chưa chấp hành và vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lục Thị C, cho bà Lục Thị C được ly hôn với ông Sằm Văn B.
Về con chung: Giao con chung là cháu Sằm Đức H, sinh ngày 05/7/2013 và cháu Sằm Văn H, sinh ngày 17/10/2014 cho bà Lục Thị C nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai cháu đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên HĐXX xét thấy:
Về tố tụng: Bà Lục Thị C có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ea Kar giải quyết việc ly hôn với ông Sằm Văn B. Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 2, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
Đối với bị đơn ông Sằm Văn B trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa lần thứ 2 đều vắng mặt không có lý do; Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Lục Thị C và ông Sằm Văn B đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 21/12/2015 trên cơ sở tự nguyện, xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống không hạnh phúc vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông B không lo làm kinh tế gia đình, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên đi chơi, uống rượu say xỉn và có hành vi đánh đập vợ, mặc dù đã được gia đình động viên yêu cầu đoàn tụ, nhưng ông B vẫn chứng nào tật đó không thể thay đổi được. Vào năm 2018 hai vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay, trong thời gian ly thân chúng tôi không còn liên lạc quan tâm đến nhau.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng để ông B thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bản thân ông B biết nhưng đều từ chối và vắng mặt không có lý do. Vì vậy phải chịu hậu quả về việc vắng mặt của mình.
Qua phân tích nhận định trên xác định nguyên nhân mâu thuẫn mà bà C đã trình bày là có căn cứ, phù hợp với biên bản xác minh tại chính quyền địa phương và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy hiện nay, mâu thuẫn giữa bà C và ông B đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Lục Thị C. Cho bà C được ly hôn với ông B là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà C và ông B có 02 người con chung là là cháu Sằm Đức H, sinh ngày 05/7/2013 và cháu Sằm Văn H, sinh ngày 17/10/2014.
Quá trình giải quyết vụ án bà C có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi trưởng thành. Do bị đơn vắng mặt nên HĐXX xét nguyện vọng của bà C là chính đáng phù hợp với quy định của pháp luật nên cần giao 02 cháu cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đển tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về trợ cấp tiền nuôi dưỡng con chung: Không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 203, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lục Thị C.
* Về quan hệ hôn nhân: Bà Lục Thị C được ly hôn với ông Sằm Văn B.
* Về con chung: Giao con chung là cháu Sằm Đức H, sinh ngày 05/7/2013 và cháu Sằm Văn H, sinh ngày 17/10/2014 cho bà Lục Thị C trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
Về trợ cấp nuôi dưỡng con chung: Không yêu cầu nên không xem xét để giải quyết.
Ông Sằm Văn B được quyền đi lại thăm, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Tuy nhiên, ông Sằm Văn B không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Lục Thị C phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2023/0001112 ngày 28/09/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện EaKar; - THADS huyện EaKar; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Ngọc |