vanban.org

Bản án 08/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Giao con chung Phạm Minh K, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Minh ly hôn chị Hoa"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST
Ngày 22-01-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Cường

2. Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Tô Việt Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn M; Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H; Nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2023 và quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Phạm Văn M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 11 tháng 12 năm 2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh tại thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc đến tháng 10 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, tích cách không hợp nên thường xuyên xẩy ra cãi nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên anh và chị H đã sống ly thân từ tháng 10/2022 không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị H có một con chung là Phạm Minh K, sing ngày 24 tháng 6 năm 2021. Ly hôn anh đề nghị Tòa án giao con chung Phạm Minh K cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh và chị H không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 03/01/2024 bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn và quá trình chung sống của vợ chồng, chị H trình bày như lời trình bày của anh M đã nêu ở trên. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị đã chuyển vào thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận ở từ tháng 10/2022 và vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục đoàn tụ được nên chị đồng ý ly hôn với anh M và chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và Phạm Văn M được ly hôn để hai bên không bị ràng buộc với nhau.

Về con chung: Chị và anh Phạm Văn M có 01 con chung là Phạm Minh K, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2021. Nay giải quyết ly hôn chị có quan điểm được nuôi con và chị đề nghị Tòa án giao con chung Phạm Minh K cho chị nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh Phạm Văn M không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa, xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao con chung Phạm Minh K, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản: Không xem xét, giải quyết. Về án phí: Anh Phạm Văn M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Phạm Văn M khởi kiện ly hôn đối với chị Nguyễn Thị H, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị H hiện đang cư trú tại thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận nhưng đồng ý giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện An Dương nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều có đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Anh Phạm Văn M và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 11 tháng 12 năm 2020, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 mỗi người một nơi không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai và đều có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh M và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh Phạm Văn M và chị Nguyễn Thị H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Phạm Văn M và chị Nguyễn Thị H có một con chung là Phạm Minh K, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2021. Anh M và chị H đều có quan điểm, ly hôn giao con chung Phạm Minh K cho chị H nuôi dưỡng. Xét quan điểm của anh M và chị H về người nuôi con sau ly hôn là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật lên chấp nhận, giao con chung Phạm Minh K cho chị H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Anh Phạm Văn M và chị Nguyễn Thị H đều có quan điểm không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản: Anh Phạm Văn M và chị Nguyễn Thị H đều có quan điểm không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

2. Về con chung: Giao con chung Phạm Minh K, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về việc cấp dưỡng và tài sản chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Anh Phạm Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Phạm Văn M đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005225 ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ