- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn - Nguyên đơn: Bà Đinh Thị V - Bị đơn: : Ông Lê Đình H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V đối với ông Lê Đình H về việc tranh chấp ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI TỈNH LÂM ĐỒNG ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST Ngày 20-3-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Dũng
2. Ông Cao Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh là thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 169/2023/TLST– HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị V, sinh năm 1987
Thường trú tại: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(bà V có mặt)
- Bị đơn: : Ông Lê Đình H, sinh năm 1979
Thường trú tại: Tổ dân phố H, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(ông H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Trong các đơn khởi kiện ghi ngày 25 tháng 10 năm 2023, ghi ngày 31 tháng 10 năm 2023 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Đinh Thị V trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H tự nguyện tìm hiểu yêu thương nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 29/11/2016 và không có tổ chức đám cưới. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã tự hòa giải nhiều lần nhưng không hòa giải được mâu thuẫn vợ chồng. Từ đầu năm 2022 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Đến tháng 8 năm 2023 bà V có nộp đơn khởi kiện ly hôn đến Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng nhưng bà V đã rút đơn ly hôn về để vợ chồng hàn gắn tình cảm và Tòa án đã quyết định đình chỉ vụ án nhưng cho đến nay vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn trầm trọng. Nay bà Đinh Thị V nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đang sống ly thân thời gian dài, không ai quan tâm đến ai nên bà Đinh Thị V yêu cầu được ly hôn với ông Lê Đình H.
- Về con chung: Bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H có 01 con chung là Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017. Hiện nay con chung Lê Hoàng C đang ở với bà V. Bà V có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập đủ điều kiện nuôi con chung. Khi ly hôn bà Đinh Thị V yêu cầu được chăm sóc và nuôi dưỡng con chung Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017 cho đến khi con chung đến tuổi thành niên. Bà Đinh Thị V không yêu cầu ông Lê Đình H cấp dưỡng nuôi con chung Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017.
- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.
Ngoài ra bà Đinh Thị V không trình bày hay yêu cầu gì khác.
* Theo văn bản trình bày ý kiến không ghi ngày tháng năm, có chữ ký của ông Lê Đình H thì bị đơn ông Lê Đình H trình bày:
Ông Lê Đình H và bà Đinh Thị V có 01 con chung Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017. Ông Lê Đình H đồng ý ly hôn nhưng ông Lê Đình H không đồng ý trợ cấp nuôi con một tháng 3.000.000đ vì ông Lê Đình H không bỏ vợ con. Bà Đinh Thị V dành quyền nuôi con bà Đinh Thị V tự lo còn không nuôi thì ông Lê Đình H nuôi con không cần bà Đinh Thị V trợ cấp nuôi con.
Ngoài ra ông Lê Đình H không trình bày hay yêu cầu gì khác.
* Vụ án đã được Toà án đưa ra hoà giải nhiều lần nhưng không tiến hành hòa giải được vì lý do vắng mặt bị đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng đã có bài phát biểu đánh giá về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và đánh giá về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Bài phát biểu đã đánh giá Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đánh giá nguyên đơn bà Đinh Thị V chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông Lê Đình H không chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V cho bà Đinh Thị V được ly hôn với ông Lê Đình H, về con chung đề nghị giao con chung là Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017 cho bà Đinh Thị V nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con chung ông Lê Đình H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, về án phí bà Đinh Thị V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của các bên đương sự tại phiên toà.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Đinh Thị V khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Lê Đình H, bị đơn ông Lê Đình H có nơi cư trú tại tổ dân phố H, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là vụ án tranh chấp ly hôn và Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Lê Đình H là đúng quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hôn nhân:
Bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 29/11/2016 vì vậy hôn nhân được xác lập giữa bà V và ông H là hôn nhân hợp pháp.
Theo nguyên đơn bà V trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã tự hòa giải nhiều lần nhưng không hòa giải được mâu thuẫn vợ chồng. Từ đầu năm 2022 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay bà Đinh Thị V nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đang sống ly thân thời gian dài, không ai quan tâm đến ai nên bà Đinh Thị V yêu cầu được ly hôn với ông Lê Đình H. Bị đơn ông Lê Đình H trình bày tại văn bản trình bày ý kiến không ghi ngày tháng năm, có chữ ký của ông Lê Đình H thì ông Lê Đình H đồng ý ly hôn. Căn cứ vào quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 73/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng thì thấy rằng ngày 19/9/2023 Tòa án đã thụ lý vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn bà Đinh Thị V và bị đơn ông Lê Đình H và đến ngày 22/9/2023 Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án vì người khởi kiện rút đơn khởi kiện. Như vậy, sau khi Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án tranh chấp ly hôn thì bà V đã tiếp tục khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H. Căn cứ biên bản xác minh ngày 18/12/2023 của Tòa án tại Hội liên hiệp phụ nữ thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng về hôn nhân giữa bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H thì bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H có xảy ra mâu thuẫn nhưng không rõ mâu thuẫn gì. Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của bà V về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là đúng với thực tế.
Xét thấy hiện nay mâu thuẫn vợ chồng giữa bà V và ông H trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân giữa bà V và ông H không đạt được, vợ chồng không còn sống chung với nhau thời gian dài và không ai còn quan tâm đến ai nữa. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị V, cho bà Đinh Thị V được ly hôn với ông Lê Đình H là có cơ sở pháp luật và phù hợp với thực tế.
Về con chung:
Bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H đều trình bày bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H có 01 con chung là Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017.
Khi ly hôn bà Đinh Thị V yêu cầu được nuôi 01 con chung là Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017 cho đến khi con chung đến tuổi thành niên.
Khi ly hôn ông Lê Đình H yêu cầu bà Đinh Thị V dành quyền nuôi con bà Đinh Thị V tự lo còn không nuôi thì ông Lê Đình H nuôi con không cần bà Đinh Thị V trợ cấp nuôi con.
Tại bản sao trích lục khai sinh số 41/2017/TLKS-BS ngày 03/5/2017 của Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thể hiện họ chữ đệm tên Lê Hoàng C, ngày tháng năm sinh 15/4/2017, họ chữ đệm tên người mẹ Đinh Thị V, năm sinh 1987, họ chữ đệm tên người cha Lê Đình H, năm sinh 1979. Căn cứ khoản 1 Điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình thì xác định Lê Hoàng C, ngày tháng năm sinh 15/4/2017 là con chung của bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H.
Xét thấy hiện nay con chung Lê Hoàng C còn nhỏ và con chung Lê Hoàng C đang ở với bà V vẫn phát triển tốt, còn ông Lê Đình H yêu cầu bà Đinh Thị V dành quyền nuôi con bà Đinh Thị V tự lo còn không nuôi thì ông Lê Đình H nuôi con không cần bà Đinh Thị V trợ cấp nuôi con. Bà V có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập nên đủ điều kiện nuôi con chung. Để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại hay tâm lý của con chung đồng thời để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 01 con chung là Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017 cho bà Đinh Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đến tuổi thành niên là có cơ sở pháp luật và phù hợp với thực tế.
Về cấp dưỡng nuôi con chung:
Bà Đinh Thị V không yêu cầu ông Lê Đình H cấp dưỡng nuôi 01 con chung là Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017 nên Hội đồng xét xử không xem xét về cấp dưỡng nuôi 01 con chung là Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017 là đúng pháp luật.
Về tài sản chung: Bà Đinh Thị V trình bày vợ chồng bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H không có tài sản chung, ông Lê Đình H không trình bày gì về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung là phù hợp.
Về nợ chung: Bà Đinh Thị V trình bày vợ chồng bà Đinh Thị V và ông Lê Đình H không có nợ chung, ông Lê Đình H không trình bày gì về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về nợ chung là phù hợp. [7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bà Đinh Thị V khởi kiện ly hôn nên phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, khoản 1 Điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V đối với ông Lê Đình H về việc tranh chấp ly hôn.
Cho bà Đinh Thị V được ly hôn với ông Lê Đình H.
2. Về con chung:
Giao một con chung là Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017 cho bà Đinh Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đến tuổi thành niên.
Ông Lê Đình H không phải cấp dưỡng nuôi con chung Lê Hoàng C, sinh ngày 15/4/2017. Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí:
Bà Đinh Thị V phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà Đinh Thị V đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên liên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001754 ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Bà Đinh Thị V đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 20/3/2024); Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 và 9 Luật thi hành án dân sự, các Điều 7 và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - Chi cục THADS huyện Đạ Huoai; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ĐÃ KÝ Đinh Xuân Trường |