vanban.org

Bản án 08/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thùy D Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thùy D được ly hôn với anh Lê Đức H Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Duyên + Hoan"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 01 - 2024
V/v: “Kiện ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hồng Châu và ông Nguyễn Văn Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hoàng – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cư Mgar

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 326/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Kiện ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 18/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐST – HNGĐ ngày 04/01/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thùy D; sinh năm 1988 (có mặt)

- Bị đơn: Anh Lê Đức H; sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn T T, xã CDLM, huyện CM, tỉnh Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Bùi Thị Thuỳ D trình bày:

Tôi và anh Lê Đức H có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 24/03/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống với nhau thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau bình thường. Nhưng sau một thời gian chung sống thì hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không hợp tính cách, không hợp cách sống nên không thể hàn gắn, hôn nhân không đạt như mong muốn và không có tiếng nói chung và đã sống ly thân nhiều năm. Vì vây, tôi làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar giải quyết cho được ly hôn với anh Lê Đức H.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Lê Đức Q, sinh ngày 13/09/2008, cháu Lê Đức A, sinh ngày 27/03/2011. Hiện nay tôi đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Đức Q và cháu Lê Đức A nên tôi có nguyện vọng tiếp tục nuôi các cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Hoan phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar đã triệu tập anh Lê Đức H để giao thông báo thụ lý vụ án, làm bản tự khai, thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Lê Đức H vẫn vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại chính quyền địa phương vào ngày 10/11/2023 được biết anh Lê Đức H có hộ khẩu thường trú tại địa phương chưa làm thủ tục chuyển đi nơi khác sinh sống.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:

- Đối với Thẩm Phán: đã thực đầy đủ các quy đinh của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện đúng thời hạn xét xử.

- Đối với Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Đối với đương sự:

Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thùy D; Chị Bùi Thị Thùy D được ly hôn với anh Lê Đức H. Giao cháu Lê Đức Q, sinh ngày 13/09/2008, cháu Lê Đức A, sinh ngày 27/03/2011 cho chị Chị Bùi Thị Thùy D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Bùi Thị Thùy D không yêu cầu anh Lê Đức H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị Thùy D không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:

Chị Bùi Thị Thùy D yêu cầu được ly hôn và con chung với anh Lê Đức H nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Anh Lê Đức H có đăng ký nhân khẩu tại xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư Mgar. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Cư Mgar nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh Lê Đức H vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thùy D và anh Lê Đức H có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 24/03/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị Bùi Thị Thùy D và anh Lê Đức H thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hạnh phúc và hiện nay đã sống ly thân. Nay chị Bùi Thị Thùy D yêu cầu được ly hôn với anh Lê Đức H, xét yêu cầu của chị Bùi Thị Thùy D là phù hợp vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị Bùi Thị Thùy D và anh Lê Đức Hoan đã trầm trọng, việc chị Bùi Thị Thùy D yêu cầu được ly hôn với anh Lê Đức H là chính đáng cần được chấp nhận.

Về con chung: Chị Bùi Thị Thùy D và anh Lê Đức H có 02 con chung là cháu Lê Đức Q, sinh ngày 13/09/2008, cháu Lê Đức A, sinh ngày 27/03/2011. Hiện nay cháu Lê Đức Q và cháu Lê Đức A đang được chị Bùi Thị Thùy D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và chị Bùi Thị Thùy D cũng có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc cháu Lê Đức Q và cháu Lê Đức A cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, cháu Lê Đức Q, cháu Lê Đức A cũng có nguyện vọng được ở với chị Bùi Thị Thuỳ D nên Hội đồng xét xử xét thấy xét nguyện vọng của chị Bùi Thị Thùy D là chính đáng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay. Vì vậy, giao cháu Lê Đức Q, sinh ngày 13/09/2008, cháu Lê Đức A, sinh ngày 27/03/2011 cho chị Bùi Thị Thùy D tiếp tục để chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị Thùy D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị Thùy D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Bùi Thị Thùy D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thùy D

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thùy D được ly hôn với anh Lê Đức H

Về con chung: Giao cháu Lê Đức Q, sinh ngày 13/09/2008, cháu Lê Đức A, sinh ngày 27/03/2011 cho chị Bùi Thị Thùy D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị Thùy D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Lê Đức H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị Thùy D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình:

Chị Bùi Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị Bùi Thị Thùy D đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0014559 ngày 21/09/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ