- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Đ - Nguyễn Văn L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn L là quan hệ vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08 /2024/HNGĐ- ST Ngày: 05 - 4 -2024 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Trần Thị Quế Anh
+ Bà Dương Thị Lan Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2024. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 01 năm 2024 về “ Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:03/2024/QĐXX- ST, ngày 14 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2024/Q§ST - HNGĐ, ngày 29 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1971 Địa chỉ: Thôn H, xã C , huyện B, tỉnh Lào Cai- Vắng mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn nhận ngày 11 tháng 01 năm 2024 và bản tự khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà với ông Nguyễn Văn L về chung sống với nhau từ năm 1994 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian sống chung giữa bà và ông L sống hòa thuận, hạnh phúc được hơn 10 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, bà và ông L không tìm được tiếng nói chung, ông L thường chơi bời bài bạc, khi bà góp ý thì ông L lại đánh bà và đã có lần ông L đánh bà thì bà đã phải mời công an xã và thôn đến giải quyết, nhưng ông L vẫn không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Bà và ông L đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm không còn, để đảm bảo cuộc sống sau này của mỗi người bà Đường làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
Tại bản tự khai ngày 11 tháng 01 năm 2024 bị đơn ông Nguyễn Văn L trình bày: Ông hoàn toàn nhất trí về thời gian kết hôn, quá trình chung sống như bà Đ trình bày. Sau khi về chung sống với nhau vợ chồng sống hạnh phúc được gần 20 năm, đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, nên đã xảy ra cãi nhau. Năm 2021 bà Đ đã nộp đơn ra Tòa án sau khi được phân tích, giải thích thì ông và bà Đ đã quay về chung sống với nhau. Thời gian gần đây giữa ông và bà Đ có xảy ra xích mính nhỏ và bà Đ đã chuyển ra ngoài sinh sống, ông đã nhiều lần gọi điện thoại nhưng không liên lạc được và bà Đ đã không quan tâm đến gia đình. Nay bà Đ làm đơn xin ly hôn, ông xét thấy tình cảm giữa ông và bà Đ vẫn còn, mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng. Ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông và bà Đ về đoàn tụ gia đình, ông L không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Bà Đ và ông L đều thừa nhận, trong thời gian chung sống giữa bà và ông Lập có 03 con chung. Cháu lớn tên là Nguyễn Văn L, sinh năm 1994, cháu thứ hai là Nguyễn Thị Q, sinh năm 1995 và cháu nhỏ là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001. Hiện nay các cháu đều đã trưởng thành, nên hai ông bà không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Đ và ông L đều không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xử:
+ Về hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn L là quan hệ vợ chồng.
- Nguyên đơn bà Đ và bị đơn ông L vắng mặt tại phiên tòa nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Bà Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn L. Ông L có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về “ Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà.
Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn L vẫn không có mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết. Đối với bà Nguyễn Thị Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo điểm a khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn L về chung sống với nhau từ năm 1994, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, được gia đình hai bên đồng ý, nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa bà Đ và ông L đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể kéo dài được, từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay bà Đ đã chuyển ra ngoài sinh sống, không ai quan tâm đến ai. Ngày 11/01/2024 bà Đ nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, ông L đã tự khai. Nhưng đến phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ ông L đã đọc lại nội dung biên bản phiên họp, nhưng không ký vào biên bản phiên họp và các biên bản tố tụng khác của Tòa án, có xác nhận của trưởng thôn và chính quyền địa phương.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc bà Đ và ông L chung sống với nhau như vợ chồng là hoàn toàn tự nguyện, có thời gian chung sống với nhau đến nay đã được gần 20 năm, nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình. Nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết, áp dụng khoản 1 Điều 14; Điều 53 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên bố quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn L không phải là quan hệ vợ chồng.
. Về nuôi con khi ly hôn: Bà Đ và ông L đều thừa nhận, trong thời gian chung sống giữa bà và ông L có 03 con chung. Cháu lớn tên là nguyễn Văn L, sinh năm 1994, cháu thứ hai là Nguyễn Thị Q, sinh năm 1995 và cháu nhỏ là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001. Hiện nay các cháu đều đã trưởng thành, nên hai ông bà không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về tài sản chung: Bà Đ và ông L đều không đề nghị Toà án giải quyết về phần chia tài sản chung. Nên, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228,Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận mối quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn L là quan hệ vợ chồng.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng)
̀ tiền án phi Hôn nhân gia đình sơ thẩm . Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi
́
́ dân sự sơ thẩm đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng theo biên lai số 0001320, ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Hà. Bà Đường đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bà Đ và ông L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Lào Cai ;
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND huyện Bắc Hà;
- CCTHADS huyện Bắc Hà;
- Lưu HS;THS;VP.
Trần Thị Thọ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Lào Cai ; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bắc Hà; - CCTHADS huyện Bắc Hà; - Lưu HS;THS;VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thọ |