- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp con chung và nợ chung"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N1 và anh Trần Minh L1 thuận tình ly hôn.
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-02-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp con chung và nợ chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH TÂY NINH.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Đào;
2. Bà Trần Ánh Nhạn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Đình Quế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp con chung, tranh chấp nợ chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; (Có mặt);
+ Bị đơn: Anh Trần Minh L1, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; (Có mặt).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập:
- Chị Võ Thị L2, sinh năm 1977; địa chỉ: địa chỉ: ấp C, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt);
- Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp cho chị T1, chị L2: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N2, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp P, xã H, thị xã S, tỉnh Tây Ninh; (Theo hợp đồng ủy quyền tham gia tố tụng lập ngày 30-10-2023 do văn phòng công chứng Tạ Thị Kim H vào sổ công chứng số 005937, 005939, quyển số 10/2023 TP/CC-SCC/HĐGD) ; (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện và Bản tự khai, lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn: chị Nguyễn Thị N1:
Về hôn nhân: Chị N1 và anh L1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào ngày 27-11-2003 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống anh chị không có mâu thuẫn gì lớn, do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng ly thân khoảng 02 năm nhưng không nhớ rõ thời gian. Hiện tại, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N1 yêu cầu ly hôn với anh L1.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu: Trần Thị Ngọc T2, sinh ngày 06-6-2011, cháu Trần Nguyên N3, sinh ngày 22-01-2004.
Cháu N3 đã trưởng thành chị N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Riêng cháu T2 hiện đang sống với chị N1. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu T2. Không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ riêng: Chị N1 xác định có nợ chị Võ Thị L2 17.000.000 đồng (tiền vay) và nợ tiền hụi của chị Phạm Thị T1 số tiền 83.000.000 đồng. Chị là người trực tiếp nhận tiền vay, ký nhận giấy vay tiền của chị L2 và giấy nợ hụi của chị T1. Toàn bộ hai khoản nợ trên, chị N1 xác định là nợ riêng, không phải nợ chung của vợ chồng vì do tự chị giao dịch, không liên quan đến anh L1. Mục đích chị vay tiền của chị L2 và tham gia chơi hụi của chị T1 là để dùng cho chị và các con, vì anh L1 không biết đến. Chị đồng ý trả hai khoản nợ trên, vì điều kiện hiện nay chị rất khó khăn nên xin trả cho chị L2 mỗi tháng 1.000.000 đồng từ tháng 05-2024 đến khi hết số tiền 17.000.000 đồng; Số tiền hụi chị nợ chị T1 83.000.000 đồng chị N1 xin trả mỗi tháng 3.000.000 đồng từ tháng 03-2024 đến khi hết nợ. Không phải trả lãi suất.
Theo bản tự khai, lời khai quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Trần Minh L1 trình bày:
Về hôn nhân: anh L1 thống nhất với lời trình bày của chị N1, về thời gian kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Về thời gian ly thân thì anh không nhớ rõ cụ thể, hiện nay anh chị không còn chung sống với nhau, anh có có đến Tòa giải quyết ly hôn nhưng chị N1 rút đơn về. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đồng ý ly hôn với chị N1.
Về con chung: anh L1 thống nhất ý kiến của chị N1.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: anh L1 xác định không có, đối với số tiền nợ chị T1 và chị L2 khởi kiện anh xác định không liên quan đến anh vì đây là khoản nợ riêng của chị N1, do đó anh không đồng ý cùng chị N1 thanh toán nợ cho chị T1 và chị L2
Theo bản tự khai, lời khai quá trình giải quyết vụ án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Phạm Thị T1 và Người đại diện hợp pháp cho chị T1: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N2,:
Chị là chủ Hụi, vợ chồng chị N1, anh L1 có tham gia chơi hụi của chị nhiều năm. Mục đích là cải thiện kinh tế gia đình. Lần sau cùng còn nợ là loại hụi 5.000.000 đồng, khởi sự khui hụi ngày 10-6-2021 DL, mãn hụi ngày 10-9-2023 DL. Dây hụi gồm 28 phần. Hụi có thỏa thuận hụi chết giá, sống đóng 4.000.000 đồng/ tháng, chết đóng 5.000.000 đồng/tháng, vợ chồng chị N1, anh L1 tham gia 01 phần trong sổ hụi được ghi số thứ tự 22, có tên ghi tên là L1 (Ngỡ). Vợ chồng N1, L1 đã hốt hụi vào lần thứ 02 (ngày 10-7-2021) được số tiền 106.500.000 đồng (đã trừ tiền thảo), có giao nhận tiền ngày 13-7-2021, chị N1 có ký nhận vào giấy hốt hụi. Sau đó, vợ chồng N1, L1 đã đóng lại hụi chết cho chị được 09 kỳ thì ngưng nên còn nợ lại 17 kỳ X 5.000.000 đồng = 85.000.000 đồng. Sau đó, do chị N1 không trả nên chị có yêu cầu viết giấy nợ 83.000.000 đồng và đồng ý giảm 2.000.000 đồng vào ngày 10-7-2022. Do chị N1, anh L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã ảnh hưởng đến quyền lợi của chị, nên chị khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị N1, anh L1 phải trả cho chị số tiền 83.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Chị N1 anh L1 xác định đây là nợ riêng của chị N1 và xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng chị T1 không đồng ý.
Theo bản tự khai, lời khai quá trình giải quyết vụ án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị L2 và Người đại diện hợp pháp cho chị L2: chị Nguyễn Thị Huỳnh N2:
Do có mối quan hệ quen biết, nên vào ngày 10-8-2023, chị N1 cần vốn làm ăn cải thiện kinh tế trong gia đình nên có đến nhà chị hỏi vay số tiền 17.000.000 đồng và viết giấy nhận nợ, không có lãi suất, thỏa thuận miện thời gian 01 tháng trả. Quá thời gian nhưng chị N1 không trả cho chị L2 đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị nên chị khởi kiện đến Tòa án. Do chị N1 vay tiền của chị để làm ăn trong thời kì hôn nhân nên chị có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu vợ chồng chị N1, anh L1 cùng có trách nhiẹm trả chị số tiền 17.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Chị N1 anh L1 xác định đây là nợ riêng của chị N1 và xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng chị L2 không đồng ý.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 27, 37, 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ các Điều 463, 468, 469, 471 của Bộ Luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính phủ về Họ, hụi, bêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N1 và anh Trân Minh L1 thuận tình ly hôn.
2. Về con chung: có 02 con chung cháu Trần Nguyên Như, sinh ngày 22-01-2004 và cháu Trần Thị Ngọc T2, sinh ngày 06-6-2011
Cháu Như đã trưởng thành không giải quyết.
Giao cháu Trần Thị Ngọc T2, sinh ngày 06-6-2011 cho chị N1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị N1 không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không giải quyết
4. Về nợ chung:
4.1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Phạm Thị T1.
4.2 Chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Võ Thị L2.
4.3 Buộc chị Nguyễn Thị N1, anh Trần Minh L1 có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Thị T1 số tiền số tiền nợ hụi gốc là: 83.000.000 đồng; trả cho chị Võ Thị L2 số tiền vay gốc là 17.000.000 đồng. Ghi nhận chị T1, chị L2 không yêu cầu chị N1, anh L1 phải trả lãi suất;
5. Án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn, con chung” đối với anh Trần Minh L1, không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung và tài sản chung. Tuy nhiên, chị Phạm Thị T1 và chị Võ Thị L2 có đơn khởi kiện yêu cầu chị N1 và anh L1 phải có nghĩa vụ thanh toán nợ chung. Nên cần Nhập 02 vụ án dân sự thụ lý số: 456/2023/TLST-DS, ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” và vụ án dân sự thụ lý số: 30/2024/TLST-DS, ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” vào vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, con chung” thành một vụ án: “Ly hôn, tranh chấp con chung, tranh chấp nợ chung” có số thụ lý: 13/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 01 năm 2024 để việc giải quyết vụ án bảo đảm đúng pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu độc lập Chị Võ Thị L2, Chị Phạm Thị T1 vắng mặt đã có văn bản ủy quyền là Chị Nguyễn Thị Huỳnh N2 là đúng quy định pháp luật, chị N2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành thủ tục đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng để đảm bảo cho việc xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N1 và anh L1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 27-11-2003 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, lời khai của anh L1, chị N1 trình bày thống nhất khi chung sống không có mâu thuẫn gì lớn, vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng ly thân khoảng 02 năm, thời gian cụ thể không nhớ rõ. Ngày 26-02-2022 anh chị có đơn ly hôn gởi đến Tòa án nhưng sau đó anh chị hòa giải đoàn tụ về vợ chồng tiếp tục chung sống đến ngày 05-01-2024 chị N1 làm đơn khởi kiện ly hôn với anh L1 nên thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh L1, chị N1 cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị N1 yêu cầu ly hôn, anh L1 đồng ý ly hôn với chị N1.
Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến trình bày của anh L1, chị N1, xác định hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên công nhận cho anh L1 và chị N1 thuận tình ly hôn.
Về con chung: Chị N1 anh L1 thống nhất 02 con chung: cháu Trần Nguyên Như, sinh ngày 22-01-2004 và cháu Trần Thị Ngọc T2, sinh ngày 06-6-2011. Cháu Như hiện nay đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết;
Hội đồng xét xử xét yêu cầu nuôi con chung của chị N1, không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con thấy rằng cháu Trần Thị Ngọc T2, sinh ngày 06-6-2011 hiện đang sống cùng với chị N1, là người đang trực tiếp chăm sóc về ăn uống, học tập, sinh hoạt hằng ngày; mặc khác cháu T2 có nguyện vọng được sống cùng với chị N1, tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với chị N1 và anh L1 thống nhất giao cháu T2 cho chị N1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xét về tài sản chung: Anh chị xác định không có, không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không giải quyết.
Xét Về nợ chung: anh L1 chị N1 xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với số tiền nợ chị T1 và chị L2 anh L1 chị N1 cho rằng đây là nợ riêng của chị N1, chị N1 có trách nhiệm thanh toán nợ. Ngược lại, yêu cầu độc lập của chị Phạm Thị T1 và chị Võ Thị L2 cho rằng đây là nợ chung và yêu cầu cả hai cùng có nghĩa vụ thanh toán.
Xét yêu cầu độc lập của chị T1 và chứng cứ cung cấp thấy rằng: chị T1heo danh sách hụi viên chị T1 cung cấp tại số thứ tự 22 có tên L1 (N1), tham gia chơi hụi của chị T1 loại hụi 5.000.000 đồng/ tháng khởi sự khui ngày 10-6-2021 DL, mãn hụi ngày 10-9-2023 DL, hụi gồm 28 phần, vợ chồng chị N1, anh L1 tham gia 01 phần được ghi vào sổ hụi với số thứ tự 22, ghi tên là L1 (N1), ngày 10-7-2021 chị N1 hốt hụi, ký nhận tiền vào ngày 13-7-2021, đã thực hiện đóng hụi chết được 09 kỳ, còn nợ lại 17 kỳ tương ứng số tiền 85.000.000 đồng, chị T1 giao nộp giấy hốt hụi, danh sách hụi viên và giấy chôt nợ hụi có chữ ký của chị N1 xác nhận, quá trình làm việc và tại phiên tòa, chị N1 thừa nhận là chữ ký của mình, nhưng cho đây là nợ riêng của chị, anh L1 không liên quan và anh L1 cũng trình bày không liên quan, không đồng ý trả số tiền nợ hụi này. Đối chiếu với nội dung đơn khởi kiện chị N1 trình bày là vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, tiền hụi chị N1 tham gia vào tháng 6/2021 và hốt vào tháng 7/2021, 01 mình chị N1 ký nhận với chị T1. Tuy nhiên, thời gian anh L1, chị N1 không xác định rõ được thời gian vợ chồng ly thân và khoản nợ này phát sinh đang trong thời kỳ hôn nhân là khoản nợ chung của vợ chồng anh L1, chị N1. Vì vậy, việc chị T1 yêu cầu vợ chồng anh L1, chị N1 trả số tiền nợ hụi là 83.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu độc lập của chị L2 và chứng cứ cung cấp thấy rằng: vào ngày 10-8-2023 chị N1 vay tiền của chị L2 17.000.000 đồng, chị N1 thửa nhận ký giấy vay tiền của chị L2 để dùng tiêu xài cá nhân, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị N1 trình bày đây là nợ riêng của chị, anh L1 không liên quan và anh L1 cũng trình bày không liên quan không đồng ý trả số tiền nợ vay này. Xét xề thời gian chị N1 ký nhận nợ chị N1 anh L1 cho rằng đã ly thân nhưng không xác định rõ được thời gian và khoản nợ vay này phát sinh đang trong thời kỳ hôn nhân nên đây là khoản nợ chung của vợ chồng anh L1, chị N1. Vì vậy, chị L2 yêu cầu vợ chồng anh L1 chị N1 có trách liên đới trả số tiền vay 17.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận
Xét về yêu cầu tính lãi: chị L2 và chị T1 không yêu cầu trả lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét và ghi nhận.
Xét Lời khai bị đơn chị N1 cho rằng là nợ riêng, anh L1 không liên quan và chị N1 xin trả dần nhưng chị L2, chị T1 không đồng ý. Theo quy định thì nghĩa vụ thi hành Bản án của người phải thi hành án được thực hiện tại cơ quan thi hành án, Tòa án không được quyền buộc người được thi hành án phải chấp nhận cho người phải thi hành án trả dần khi họ không đồng ý; chị N1, anh L1 cho rằng đây là nợ riêng của chị N1, tuy nhiên về thời gian chị N1 Tham gia chơi hụi của chị T1 và vay tiền của chị L2 là thời gian anh L1 chị N1 còn chung sống với nhau trong thời kỳ hôn nhân, anh chị chưa được Tòa án cho ly hôn, mục đích tham gia chơi hụi và vay tiền để cải thiện kinh tế trong gia đình là nhu cầu chi phí chính đáng trong chi tiêu sinh hoạt gia đình, là nợ chung của cả hai vợ chồng, nên chị Lua, chị T1 khởi kiện cả hai cùng có trách nhiệm trả nợ là phù hợp với quy định tại Điều 27 và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập theo quy định Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Do đó, ý kiến của chị N1, anh L1 không được chấp nhận.
Xét về nghĩa vụ liên đới trả nợ khi Tòa án buộc anh L1, chị N1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho chị L2 83.000.000 đồng cho chị T1 và 17.000.000 đồng, tuy nhiên, anh L1, chị N1 ly hôn nên cần phân định và buộc mỗi người phải có nghĩa vụ trả 50% số tiền còn nợ cho chị T1, chị L2 là phù hợp.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận khởi kiện yêu cầu độc lập của Chị Võ Thị L2 và Chị Phạm Thị T1.
Buộc chị Nguyễn Thị N1 có nghĩa vụ trả cho chị T1 số tiền: 41.500.000 đồng, trả cho chị L2 số tiền 8.500.000 đồng.
Buộc anh Trần Minh L1 có nghĩa vụ trả cho chị T1 số tiền: 41.500.000 đồng, trả cho chị L2 số tiền 8.500.000 đồng
Ghi nhận chị T1, chị L2 không yêu cầu chị N1, anh L1 phải trả lãi suất;
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tình tiết, nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị N1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 2.500.000 đồng tiến án phí dân sự sơ thẩm. Anh L1 phải chịu 2.500.000 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm,
Chị T1, chị L2 không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 27, 37, 55; 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ các Điều 463, 468, 469, 471 của Bộ Luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính phủ về Họ, hụi, bêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N1 và anh Trần Minh L1 thuận tình ly hôn.
2. Về con chung: có 02 con chung cháu Trần Nguyên N3, sinh ngày 22-01-2004 và cháu Trần Thị Ngọc T2, sinh ngày 06-6-2011
Cháu N3 đã trưởng thành không giải quyết.
Giao cháu Trần Thị Ngọc T2, sinh ngày 06-6-2011 cho chị N1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị N1 không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không giải quyết
4. Về nợ chung:
4.1. Chấp nhận khởi kiện yêu cầu độc lập của chị Phạm Thị T1.
4.2 Chấp nhận khởi kiện yêu cầu độc lập của chị Võ Thị L2.
4.3 Buộc chị Nguyễn Thị N1 có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Thị T1 số tiền số tiền nợ hụi gốc là: 41.500.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm ngàn đồng), trả cho chị Võ Thị L2 số tiền vay gốc là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm ngàn đồng).
4.4 Buộc anh Trần Minh L1 có nghĩa vụ trả cho chị Phạm Thị T1 số tiền số tiền nợ hụi gốc là: 41.500.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm ngàn đồng), trả cho chị L2 số tiền vay gốc là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm ngàn đồng).
4.5 Ghi nhận chị T1, chị L2 không yêu cầu chị N1, anh L1 phải trả lãi suất;
4.6 Kể từ ngày chị T1, chị L2 có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng anh L1 và chị N1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
5. Về án phí:
5.1 Chị Nguyễn Thị N1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013555, ngày 18 tháng 10 năm 2024 và 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5.2 Anh Trần Minh L1 phải chịu 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm,
5.3 Chị Phạm Thị T1 và chị Võ Thị L2 không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
5.3.1 Chi cục Thi hành án Dân sự huyện G, tỉnh Tây Ninh hoàn trả lại cho chị Phạm Thị T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.075.000 đồng theo biên lai thu số 0013363, ngày 20 tháng 11 năm 2023;
5.3.2 Chi cục Thi hành án Dân sự huyện G, tỉnh Tây Ninh hoàn trả lại cho chị Võ Thị L2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 425.000 đồng theo biên lai thu số 0013600, ngày 18 tháng 01 năm 2024.
6. Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi có trụ sở.
7. Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -Phòng KTNV TAND tỉnh Tây Ninh -VKSND huyện G, tỉnh Tây Ninh; -CCTHADS huyện G; -Các đương sự; - Nơi cấp chứng nhận kết hôn; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Trang |