- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Ông Nguyễn Văn Đ "Tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe" ông Lê Tấn S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ đối với bị đơn ông Lê Tấn S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/DS-ST Ngày: 03/4/2024 V/v: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA
TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Hồng.
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Hồ Thị Loan;
2/ Ông Lý Quốc Trưởng;
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Ngọc Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
Ngày 03 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 203/2023/TLST-DS, ngày 04 tháng 12 năm 2023, về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-DS, ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993;
Đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Bà Phan Thị H, sinh năm: 1949 (Có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã B, huyện M, tỉnh L;
(Theo giấy ủy quyền ngày 18/01/2024)
2/ Bị đơn: Ông Lê Tấn S, sinh năm: 1995 (Vắng mặt không lý do);
Địa chỉ: Ấp 3, xã Bình Hòa Đông, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và những lời trình bày tiếp theo của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Phan Thị H, như sau:
Vào ngày 03/4/2022 con của ông Đ là Nguyễn Thị Hồng T chưa được 8 tuổi đang ngồi chơi bên nhà, thì chó nhà ông S chạy sang chổ cháu T, ông S nhìn thấy nhưng không la chó. Con chó chụp vô người cháu T làm cháu T té ngửa ra, cháu T xô chó ra thì bị con chó cắn vào tay trái, bà H là bà nội của cháu T có qua nhà ông S phản ánh việc cháu T bị chó nhà ông S cắn thì ông S cho rằng chó của ông S chỉ giỡn nên quào vậy thôi. Sau đó bà H có dẫn cháu T đi tiêm ngừa mũi đầu tiên thì bác sĩ dặn giữ chó lại và chích 03 mũi rồi theo dõi, nhưng chích đến mũi thứ 2 thì ông S đã bán con chó cắn cháu T đi mất. Sau đó gia đình bà H có làm đơn yêu cầu UBND xã giải quyết, tại biên bản hòa giải ấp bên gia đình ông Đ yêu cầu ông S bồi thường tiền tiêm chích ngừa và tiền thuốc cho cháu T, nhưng ông S chỉ đồng ý bồi thường tiền tiêm chích ngừa còn các khoản tiền khác thì không đồng ý.
Nay ông Nguyễn Văn Đ trong đơn khởi kiện yêu cầu ông Lê Tấn S phải bồi thường số tiền 3.804.450 đồng, bao gồm: tiêm vắc xin 570.000 đồng + khám bệnh, mua thuốc 1.494.450 đồng + đi lại 600.000 đồng + bồi dưỡng sức khỏe 1.140.000 đồng. Tại phiên tòa bà H đại diện cho ông Đ thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu ông S bồi thường số tiền 3.631.446 đồng gồm: tiêm vắc xin 570.000 đồng + khám bệnh, mua thuốc 1.321.446 đồng + đi lại 600.000 đồng + bồi dưỡng sức khỏe 1.140.000 đồng.
2/ Bị đơn, ông Lê Tấn S trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông S vắng mặt và không nộp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: ông Nguyễn Văn Đ khởi kiện yêu cầu ông Lê Tấn S bồi thường thiệt hại về sức khỏe do súc vật gây ra làm phát sinh quan hệ pháp luật tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Do ông S cư trú tại huyện M, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản a điểm 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lê Tấn S đã được tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt, nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông S.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu ông Lê Tấn S phải bồi thường thiệt hại do súc vật của ông S gây ra với số tiền là 3.631.446 đồng, trong đó tiêm vắc xin 570.000 đồng + khám bệnh, mua thuốc 1.321.446 đồng + đi lại 600.000 đồng + bồi dưỡng sức khỏe 1.140.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Căn cứ vào biên bản hòa giải ngày 26/5/2022 ở ấp 3, xã B bên nguyên đơn có yêu cầu bên bị đơn bồi thường tiền tiêm và tiền thuốc, nhưng bên bị đơn chỉ đồng ý bồi thường tiền tiêm vắc xin. Điều này có nghĩa là bên bị đơn ông S ý thức được việc chó nhà ông S cắn cháu T, con của ông Đ gây nên vết thương. Thêm vào đó cháu T cũng đã đi tiêm vắc xin dại 03 lần (có phiếm tiêm chủng vắc xin dại). Như vậy có cơ sở khẳng định vật nuôi nhà ông S có cắn cháu T, con ông Đ nên cháu T phải đi khám và tiêm ngừa là có thật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 603 Bộ luật dân sự quy định: “Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác”. Do đó ông Đ yêu cầu ông S phải bồi thường các khoản: tiêm vắc xin dại 190.000đ/mũi x 03 mũi = 570.000đ (có hóa đơn); khám bệnh, mua thuốc 1.321.446 đồng (có hóa đơn); đi lại 600.000 đồng; bồi dưỡng sức khỏe 1.140.000 đồng, tổng cộng 3.631.446 đồng là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 6 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 584, 585, 590, 603 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ đối với bị đơn ông Lê Tấn S.
Buộc ông Lê Tấn S phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 3.631.446đ (Ba triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi sáu đồng).
2. Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Tấn S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Ông Nguyễn Văn Đ không phải phải chịu án phí, hoàn trả cho ông Đ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003026 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
4. Về quyền kháng cáo: Đương có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; ; - VKSND huyện Mộc Hóa; - Chi cục THADS huyện Mộc Hóa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Phạm Thị Thúy Hồng |