- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HSST Ngày: 20-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Sang.
2/ Ông Sơn Nhật Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, Thư ký – Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Liệt, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/HSST ngày 01 tháng 02 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Tuấn K, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2004, tại tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ tên cha Nguyễn Thanh Phương E, sinh năm: 1980 và họ tên mẹ Nguyễn Thị P, sinh năm: 1985; Vợ con chưa có; Tiền án: Không có; Tiền sự: có 01 tiền sự; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 14/11/2022 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị Mường K, sinh năm 1962. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1962. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Ấp L, xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
2/ Anh Nguyễn Minh Cường, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Đ, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/7/2022, bà Nguyễn Thị Mộng K đóng cửa nhà đi sửa xe đạp, trong nhà bà có treo cái túi vải (bóp) màu đen, loại quai xách trên sào quần áo tại phòng ngủ, bên trong bóp có 121 tờ vé số, xổ ngày 27/7/2022; tiền Việt Nam: 1.650.000 đồng; 03 chiếc nhẫn vàng trơn, loại vàng 24K, trọng lượng mỗi chiếc 1 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng có đính hột, loại vàng 18K, trọng lượng 0,5 chỉ (số vàng bà K để bên trong túi vải màu đỏ, loại túi rút để bên trong bóp). Đến khoảng 15 phút sau, Nguyễn Văn Tuấn K, đang chơi game bắn cá tại quán cạnh nhà bà K, nhìn thấy nhà bà K đóng khóa cửa, biết không có ai ở nhà nên K nảy sinh ý định vào nhà bà K tìm tài sản lấy trộm. K đi lại phía bên hông phải nhà bà K, khoét vách lá chui vào nhà. K vào phòng ngủ của bà K thì phát hiện 01 cái túi vải (bóp) màu đen trên sào quần áo. K mở túi vải ra xem thấy có vé số; tiền Việt Nam; 01 túi vải rút màu đỏ đựng vàng. K không kiểm tra mà lấy hết vé số, tiền và túi vải rút đựng vàng trên rồi chui qua lỗ vách lá mà K đã khoét trước đó ra ngoài.
Sau khi lấy trộm, K đem toàn bộ vé số và túi đựng vàng cất giấu tại nơi để quần áo trong phòng ngủ của bà Huỳnh Thị G; số tiền Việt Nam, K đếm được 1.650.000 đồng, K tiêu xài cá nhân hết.
Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-ĐGTS ngày 08/10/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, kết luận: 03 chiếc nhẫn vàng trơn, loại 24K, trọng lượng mỗi chiếc 01 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng có gắn hột màu đỏ, loại vàng 18K, trọng lượng 0,5 chỉ. 121 tờ vé số (đài Bạc Liêu và Bến Tre sẽ mở thưởng ngày 27/7/2022); 01 cái bóp (túi vải) màu đen, loại quai xách, có kích thước 0.16 x 0.26 x 0.12 mét, có bốn ngăn, mỗi ngăn được khóa bằng dây xích, mặt trước bóp có dòng chữ “POLO” và ba hình ngôi sao màu đen trên miếng kim loại màu trắng, với tổng số tiền là 18.243.500 đồng.
Về vật chứng:
Sau khi sự việc xảy ra, bà Nguyễn Thị Mường K trình báo Công an xã Hòa Minh và giao nộp: 01 cái bóp được làm bằng vải màu đen, có quai xách, đây là cái bóp bà K đựng tài sản treo trên sào quần áo tại phòng ngủ, K để lại sau khi lấy tài sản bên trong. Đồng thời, Công an xã Hòa Minh tiến hành kiểm tra, truy tìm tài sản K lấy trộm của bà K đem về giấu tại phòng ngủ của bà Huỳnh Thị G, theo lời khai của K, gồm 121 tờ vé số, 04 chiếc nhẫn vàng nhưng không tìm gặp.
Ngoài vụ việc trên, còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác như sau:
Vào đêm ngày 20/9/2022, Nguyễn Văn Tuấn K, Huỳnh Minh H và ăn hủ tíu tại chợ Hòa Minh. Đến khoảng 02 giờ 45 phút ngày 21/9/2022, sau khi ăn hủ tíu xong H bàn với K là đi dọc đường xem có xe ai để bên ngoài không người trông coi sẽ hút xăng trộm đổ vào xe H vì xe H sắp hết xăng thì K đồng ý, K tìm lấy được chai nhựa. H điều khiển xe chở K và T về nhà T. Khi đến nhà anh Nguyễn Minh C thì thấy có hai chiếc xe mô tô dựng phía trước nên H kêu K vào rút xăng được gần 0,5 lít xăng (nửa lít xăng). K đưa chai xăng cho T đem ra cho H đổ vào xe rồi T đem chai nhựa vào đưa K rút xăng chiếc xe khác được một ít, K đưa chai xăng cho T đem ra cho H đổ vào xe tiếp. Lúc này, K đi vào trong nhà anh C bắt trộm 02 con gà trống nòi, đang nhốt trong 02 cái bội (01 con nặng khoảng 2,8 kg; 01 con nặng khoảng 2,6 kg) giấu vào trong áo đang mặc rồi ra ngoài lên xe cho H chở đưa T về nhà rồi H chở K về nhà H ngủ. Đến sáng, K cho H 01 con gà nặng khoảng 2,8 kg, còn K giữ con gà nặng khoảng 2,6 kg. Sau đó, Công an mời làm việc, H và K giao nộp 02 con gà trên cho Công an xã Hòa Minh. Công đã trả lại cho anh Cường.
Tại kết luận định giá tài sản số 43/KL-ĐGTS, ngày 17/12/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, kết luận: 01 con gà trống đá có lông màu đỏ, trắng, đen (gà đều) cân nặng khoảng 2,8 kg; 01 con gà trống đá có lông màu đỏ, trắng, đen (gà đều) cân nặng khoảng 2,6 kg; 0,5 lít xăng (loại xăng 95), với tổng số tiền là 713.605 đồng.
Nhân thân Huỳnh Nhật T và Huỳnh Minh H chưa có tiền án, tiền sự. Ngày 29/9/2022, Ủy ban nhân dân xã Hòa Minh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Huỳnh Nhật T và Huỳnh Minh H về hành vi Trộm cắp tài sản, mỗi người với số tiền 1.250.000 đồng.
Tại cáo trạng số: 11/VKS-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.
Bị hại bà Nguyễn Thị Mộng K có yêu cầu về mặt hình sự xử lý bị cáo theo quy định pháp luật. Về mặt dân sự: Yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại giá trị tài sản bị mất bằng 19.893.500 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh. Đối với điều luật áp dụng vị đề nghị giữ nguyên đối với bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K. Vị phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ, tình tiết, tính chất của vụ án, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời gian tính từ ngày 14/11/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Mường K có yêu cầu bồi thường thiệt hại giá trị bằng 19.893.500 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo, không trái quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Anh Nguyễn Minh C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
- Vị còn đề nghị xem xét xử lý vật chứng và án phí.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của bị hại, những người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 26/7/2022, Nguyễn Văn Tuấn K lợi dụng lúc ở nhà bà Nguyễn Thị Mường K không có người nên đã khoét vách lá chui vào phòng ngủ của bà K, lấy trộm của bà K 01 cái túi vải, màu đen được treo trên sào quần áo. Bên trong túi vải có: 1.650.000 đồng; 121 tờ vé số mỗi tờ trị giá 10.000 đồng (đài Bạc Liêu và Bến Tre mở thưởng ngày 27/7/2022); 03 chiếc nhẫn vàng trơn, loại vàng 24K, trọng lượng mỗi chiếc 01 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng có gắn hột màu đỏ, loại vàng 18K, trọng lượng 0,5 chỉ, với tổng số tiền 18.243.500 đồng. Như vậy, tổng số tài sản mà K chiếm đoạt của bà Mường Kha là 19.893.500 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan, không sai đối với bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân do pháp luật bảo vệ, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm thực hiện tội phạm và phạm tội một cách cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Điều này chứng tỏ bị cáo hết sức xem thường pháp luật nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần có hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tình răn đe đối với bản thân các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân của bị cáo có nhân thân xấu: Bị cáo có một tiền sự ngày 31/3/2021, bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K bị Công an xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành xong. Ngoài ra, bị cáo cùng với Huỳnh Nhật T và Huỳnh Minh H thực hiện hành vi trộm cắp 01 con gà trống đá có lông màu đỏ, trắng, đen (gà đều) cân nặng khoảng 2,8 kg; 01 con gà trống đá có lông màu đỏ, trắng, đen (gà đều) cân nặng khoảng 2,6 kg; 0,5 lít xăng (loại xăng 95), với tổng số tiền là 713.605 đồng.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn nhận tội, đã ăn năn, hối cải nhận thức được lỗi lầm, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về quan điểm và đề nghị của vị kiểm sát viên có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Mường K có yêu cầu bồi thường thiệt hại giá trị bằng 19.893.500 đồng, bị cáo K đồng ý bồi thường cho bị hại, sự thỏa thuận này không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K bồi thường cho bà Nguyễn Thị Mường K số tiền 19.893.500 đồng.
Anh Nguyễn Minh C đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Đối với Huỳnh Nhật T và Huỳnh Minh H chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và giá trị tài sản chiếm đoạt cùng với bị cáo K dưới mức quy định về xử lý hình sự nên ngày 29/9/2022, Ủy ban nhân dân xã Hòa Minh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Huỳnh Nhật T và Huỳnh Minh H về hành vi Trộm cắp tài sản, mỗi người với số tiền 1.250.000 đồng.
Về vật chứng: 01 cái bóp bằng vải màu đen của bà Nguyễn Thị Mường K nên hoàn trả lại cho bà K; 01 chai nhựa màu trắng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 268, Điều 269 và Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K 01 năm tù. Thời gian tính từ ngày 14/11/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K và bị hại Nguyễn Thị Mường K. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Mường K 19.893.500 đồng.
Khi án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng. Hoàn trả lại cho Nguyễn Thị Mường K 01 cái bóp bằng vải màu đen.
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, điểm c khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tuấn K bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo K phải chịu 994.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Châu Thành; - CC THADS huyện Châu Thành; - Công an huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu VP, HS (…) HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Thị Sang Sơn Nhật Thành | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Nguyên HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CHỦ TỌA Phạm Hoàng Nguyên |