vanban.org

Bản án 08/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 04/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính tù ngày 16/11/2022. Về trách nhiệm dân sự: Phần bồi thường đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phi Hùng - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-ST
Ngày: 04-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Tuấn

Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quang Trí.

2. Ông Trần Ngọc Đằng.

3. Bà Nguyễn Thị Hồng Phước.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phi H; Tên gọi khác: HN; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/01/1982, tại: Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Nơi cư trú: ấp HTT, xã LHA huyện LVo, Đồng Tháp; Chổ ở: ấp NQ, xã VT, huyện LVo, Đồng Tháp; Con ông Nguyễn Kế N, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1968; Vợ tên Nguyễn Thị Thùy P, sinh năm 1994 (chết); Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2013; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con lớn nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 16/11/2022; Tạm giam ngày 19/11/2022; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phi H theo luật định: Luật sư Huỳnh Trí Cường - Văn phòng luật sư Trí Cường thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

Người bị hại: Nguyễn Thị Thùy P, sinh năm: 1994 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1963 (có mặt);

2. Nguyễn Thị P1, sinh năm: 1969 (có mặt);

3. Nguyễn Phi L1, sinh năm: 2012 (có đơn xin vắng mặt);

4. Nguyễn Phi L2, sinh năm: 2013 (có đơn xin vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Phi L1 và Nguyễn Phi L2 là: Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1963;

Cùng địa chỉ: ấp NQ, xã VT, huyện LVo, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Kế N, sinh năm 1965 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp HTT, xã LHA huyện LVo, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phi H và Nguyễn Thị Thùy P kết hôn với nhau vào năm 2012, cả hai có 02 người con tên Nguyễn Phi L1, sinh năm 2012 và Nguyễn Phi L2, sinh năm 2013.

Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 16/11/2022, Nguyễn Thị Thùy P đưa con là Nguyễn Phi L2 đi học rồi Nguyễn Thị Thùy P đi nhuộm tóc. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Thùy P về nhà thì Nguyễn Phi L1 mới hỏi “mẹ đi đâu mới về”, Nguyễn Thị Thùy P nói “lấy tiền đi nhuộm tóc nên về trễ” rồi đi vào trong nhà ngồi. Nguyễn Phi H đang nằm trên võng nghe Nguyễn Thị Thùy P nói vậy liền chửi Nguyễn Thị Thùy P dẫn đến cãi nhau. Nguyễn Phi H đứng lên đi đến nơi Nguyễn Thị Thùy P đang ngồi rồi dùng tay phải đánh vào mặt Nguyễn Thị Thùy P một cái. Nguyễn Thị Thùy P đứng lên dùng tay đánh trúng vai của Nguyễn Phi H một cái, Nguyễn Phi H tiếp tục dùng chân phải đá vào người Nguyễn Thị Thùy P nhưng Nguyễn Thị Thùy P dùng tay đỡ được. Nguyễn Phi H tiếp tục đi đến kệ bếp lấy một con dao kim loại dài 21,5cm, lưỡi dao dài 10cm, mũi nhọn đâm trúng vào vùng ngực của Nguyễn Thị Thùy P một cái, Nguyễn Phi H bỏ con dao xuống nền nhà rồi đi lại võng nằm, còn Nguyễn Thị Thùy P bất tỉnh ngã xuống nền nhà. Thấy vậy, Nguyễn Phi H kêu Nguyễn Phi L1 chạy qua nhà ông Nguyễn Thanh V là ông ngoại của Nguyễn Phi L1 ở gần đó đưa Nguyễn Thị Thùy P đi cấp cứu nhưng Nguyễn Thị Thùy P đã tử vong, còn Nguyễn Phi H đến Công an xã Vĩnh Thạnh đầu thú.

Hiện trường xảy ra vụ án tại nhà của Nguyễn Phi H thuộc ấp Nhơn Qưới, xã Vĩnh Thạnh, tỉnh Đồng Tháp. Trong quá trình khám nghiệm hiện trường và quá trình điều tra đã thu giữ: 01 (một) con dao kim loại dài 21,5cm, lưỡi dao dài 10cm, mũi nhọn, phần cán có chữ KIWI, phần lưỡi có chữ KIWI BRAND made in thailand; 01 (một) áo khoát dài tay màu tím; 01 (một) bộ đồ thun màu hồng đen; 01 (một) áo ngực thun xanh; 02 (hai) áo thun màu xám hiệu FURLION, cổ có bâu màu xanh.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1084 ngày 21/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Bà Nguyễn Thị Thùy P, sinh năm 1994, bị vết thương do vật sắt nhọn tác động vào vùng ngực gây thủng tim là nguyên nhân tử vong.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 20.000.000 đồng tiền mai táng phí. Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Thùy P không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại cáo trạng số 05/CT-VKSĐT-P2 ngày 02/2/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Phi H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H từ 13 năm đến 15 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Phần bồi thường đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo cấp dưỡng nuôi hai cháu Nguyễn Phi L1 và Nguyễn Phi L2 theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật buộc bị cáo cấp dưỡng nuôi hai cháu.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phi H phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo. Đồng thời, luật sư cũng viện dẫn các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và tác động gia đình bồi thường mai táng phi cho đại diện hợp pháp của bị hại, được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo là người mắc nhiều bệnh như tiểu đường, suy thận, để xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Phi H không có ý kiến bào chữa bổ sung cũng không tranh luận, thống nhất với quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị Thùy P không tham gia tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Kế N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra rõ ràng và sự vắng mặt của người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt.

Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Phi H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khẳng định hành vi được mô tả trong bản cáo trạng số 05/CT-VKSĐT- P2 ngày 02/2/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Xuất phát từ việc bị hại Nguyễn Thị Thùy P lấy tiền đi nhuộm tóc, bị cáo Nguyễn Phi H có lời lẽ chửi bị hại dẫn đến hai bên cãi nhau. Nguyễn Phi H dùng tay đánh vào mặt Nguyễn Thị Thùy P, sau đó dùng chân phải đá vào người của Nguyễn Thị Thùy P nhưng Nguyễn Thị Thùy P đỡ được, Nguyễn Phi H không dừng lại mà tiếp đi đến kệ bếp lấy một con dao kim loại dài 21,5cm, lưỡi dao dài 10cm, mũi nhọn đâm một cái trúng vào vùng ngực của Nguyễn Thị Thùy P gây thủng tim dẫn đến tử vong. Sau đó, Nguyễn Phi H đến Công an xã Vĩnh Thạnh đầu thú.

Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Phi H đã phạm vào tội “Giết người” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a). . .

n) Có tính chất côn đồ”;

Bị cáo Nguyễn Phi H là người đã trưởng thành, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Đáng lý ra, trước sự việc như vậy lẽ ra bị cáo phải bình tĩnh, kiềm chế bản thân để tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách đúng đắn thì sẽ không xảy ra sự việc đáng tiếc mà còn giữ được tình cảm vợ chồng mà hai người đã dày công vun đắp. Bị cáo không làm được điều này mà ngược lại, muốn thu phục người khác cũng như giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được tính mạng, sức khỏe của con người luôn được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người một cách trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh. Chỉ vì mâu thuẩn nhỏ trong đời sống vợ chồng mà bị cáo bất chấp pháp luật, đã tước đoạt mạng sống của bị hại Nguyễn Thị Thùy P một cách trái pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến tính mạng của bị hại mà còn làm ảnh hưởng cuộc sống gia đình, gây ra mất mát không gì có thể bù đắp được. Hành vi đó đã thể hiện sự xuống cấp về đạo đức, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị quần chúng xã hội lên án, xâm phạm đến kỷ cương pháp luật Nhà nước. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là việc làm cần thiết. Đối với bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để có điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú và tác động gia đình bồi thường mai táng phí cho đại diện hợp pháp của bị hại, được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo là người mắc nhiều bệnh như suy thận, tiểu đường, nhân thân chưa tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tại phiên tòa về tội danh, điều khoản của tội danh cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Xét lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo đã nêu về các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, phần bồi thường các bên đã thỏa thuận giải quyết xong nên không đặt ra xem xét. Nhưng, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo cấp dưỡng nuôi hai cháu Nguyễn Phi L1, sinh năm 2012 và Nguyễn Phi L2, sinh năm 2013 là con chung của bị cáo Nguyễn Phi H và bị hại Nguyễn Thị Thùy P do ông Nguyễn Thanh V và bà Nguyễn Thị P1 nuôi dưỡng, theo quy định của pháp luật. Xét yêu cầu của người đại diện hợp pháp cho bị hại là có căn cứ. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phi H đồng ý cấp dưỡng nuôi hai cháu Nguyễn Phi L1 và Nguyễn Phi L2 mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 16/11/2022, nên ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo Hùng.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao kim loại dài 21,5cm, lưỡi dao dài 10cm, mũi nhọn, phần cán có chữ KIWI, phần lưỡi có chữ KIWI BRAND made in thailand; 01 (một) áo khoát dài tay màu tím; 01 (một) bộ đồ thu màu hồng đen; 01 (một) áo ngực thun hồng; 02 (hai) áo thun màu xám hiệu FURLION, cổ có bâu màu xanh là công cụ phạm tội và là tài sản mà chủ sở hữu không đồng ý nhận lại. Xét thấy cần phải tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phi H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính tù ngày 16/11/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Phần bồi thường đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

Căn cứ Điều 81; Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Phi H đồng ý cấp dưỡng nuôi hai cháu Nguyễn Phi L1, sinh năm 2012 và Nguyễn Phi L2, sinh năm 2013 mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 16/11/2022 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, đủ khả năng tự lao động sinh sống. Ông Nguyễn Thanh V và bà Nguyễn Thị P1 là người đại diện hợp pháp nhận.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao kim loại dài 21,5cm, lưỡi dao dài 10cm, mũi nhọn, phần cán có chữ KIWI, phần lưỡi có chữ KIWI BRAND made in thailand; 01 (một) áo khoát dài tay màu tím; 01 (một) bộ đồ thu màu hồng đen; 01 (một) áo ngực thun hồng; 02 (hai) áo thun màu xám hiệu FURLION, cổ có bâu màu xanh.

(Các vật chứng nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Phi H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

Cỡ chữ