- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Thái Ngọc H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 10 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X THÀNH PHỐ Y Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày: 10-02-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X - THÀNH PHỐ Y
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đinh Kim Hoàng
2. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Y.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2023/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Thái Ngọc H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27 tháng 8 năm 1988 tại V; Nơi đăng ký thường trú: G1, Tổ A, Khu phố B, phường C, Quận D, Thành phố Y; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Đi tàu cá; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Thái Văn H, sinh năm: 1957 và bà Huỳnh Thị M, sinh năm: 1966. Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không
Tiền án:
+ Ngày 28/09/2007, bị Tòa án Thành phố Y xử phạt tù 09 năm tù theo bản án số 953/HSST án tổng hợp về tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”. Xác minh thi hành án của Thái Ngọc H tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Y: không có thông tin về bản án và không có thông tin về việc thi hành án dân sự của Thái Ngọc H đối với bản án số 953/HSST, Chưa thi hành án phí.
Nhân thân:
+ Ngày 07/8/2019, bị Toà án nhân dân Quận D áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng (Quyết định số 583/QĐ-TA). Đến ngày 27/01/2021 chấp hành xong Quyết định.
+ Ngày 08/11/2021, Uỷ ban nhân dân xã P, huyện C1 ra Quyết định số 922/QĐ-UBND về việc đưa vào cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý. Đến ngày 08/02/2022 Ủy ban nhân dân xã P, huyện C1 Quyết định số 87/QĐ-UBND về việc huỷ Quyết định số 922/QĐ-UBND.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11 tháng 10 năm 2022, “Có mặt”
2. Nguyễn Tiến Đ; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 30/4/1986, tại Thành phố Y; Nơi thường trú: 290/65/32 B1, Phường C1, Quận X, Thành phố Y; Nơi ở hiện tại: Không có nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Thợ làm bánh mì; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 09/12; Cha: Phạm Công H, sinh năm: 1964; Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1960; Vợ: Tạ Thị N, sinh năm: 1979; Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2008.
Tiền sự: Không
Tiền án:
+ Ngày 27/8/2009, Toà án nhân dân Quận E1 xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuy" (Bản án số 167/2009/HSST). Đến ngày 07/02/2018 chấp hành xong hình phạt. Đã thi hành án phí, chưa thi hành 30.000.000 đồng tiền phạt, 10.070.000 đồng tiền thu lợi bất chính và lãi chậm thi hành án.
Nhân thân:
+ Ngày 07/8/2019, Toà án nhân dân huyện C2 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đựa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng (Quyết định số 361/QĐ-TA). Đến ngày 24/9/2020, chấp hành xong Quyết định.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11 tháng 10 năm 2022, “có mặt”
Bị hại:
Bà: Ngô Thị Chúc M, sinh năm: 1968
Địa chỉ: 361 T, Phường A1, Quận B1, TP. Y. “vắng mặt”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Văn Trúc L, sinh năm 1996
Địa chỉ: 361 T, Phường A1, Quận B1, TP. Y. “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 09/10/2022, Thái Ngọc H đi xe buýt từ Quận D đến nhà của Nguyễn Tiến Đ tại địa chỉ: KE40 đường P, phường T1, Quận E1, Thành phố Y. Sau đó, Đ điều khiển xe máy kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số: 52X2-7604 chở H qua Quận X đi chơi. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến trước nhà số 884/1 B1, phường E1, Quận X, Thái Ngọc H phát hiện xe máy hiệu Honda Vision, màu hồng, biển số : 59F1- 857.88, đang dựng trước cửa nhà trên không có người trông coi. H bàn bạc với Đ lén lút chiếm đoạt xe máy, bán lấy tiền tiêu xài, Đ đồng ý.
Để thực hiện ý định, H lấy 02 chìa khóa đem theo để trong túi quần, sử dụng 01 chìa để mở khóa xe nhưng không được, nên H dắt bộ xe máy đi. Đ điều khiển xe máy hiệu Honda WAVE, biển số 52X2-7604 đến, phụ đẩy xe máy H vừa lấy trộm được ra đường T3 hướng về Cầu K, đến số 08 H, Phường X1, Quận X, H và Đ vào uống cà phê. Đến 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Công an Phường E1 nghi vấn H, Đ, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác nên tiến hành kiểm tra và mời Đ, H về trụ sở để lập biên bản vụ việc.
Tại Cơ quan điều tra Công an Quận X, Thái Ngọc H và Nguyễn Tiến Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 51/KI-HĐĐGTS ngày 11/10/1022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận X kết luận: 01 (một) xe gắn máy, hiện Honda Vision, biển số: 59F1-857.88, số khung RLHJF5815GY028904, số máy JF66E0028947, đã qua sử dụng có quá trị 15.500.000 đồng. Qua xác minh, xe máy trên của chị Văn Trúc L (là con gái của bà Ngô Thị Chúc M) đứng tên chủ sở hữu, nên Cơ quan điều tra Công an Quận X đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị L.
Vật chứng vụ án:
+ 02 (hai) đĩa CD-R có chứa nội dung sự việc Thái Ngọc H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (lưu theo hồ sau vụ án);
+01 (một) xe máy hiệu WAVE, màu xanh, biển số 52X2-7604, đã qua sử dụng (phương tiện Đ sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội). Cơ quan điều tra trưng cầu giám định số khung, số máy nguyên thủy của xe máy trên tại Phòng Kỹ thuật hình sự
- Công an Thành phố Y, kết quả số máy: VUMFCYG150FMG – 4L100548; số khung: bị băm mất số, nên Cơ quan điều tra không có thông tin chủ sở hữu để xử lý;
+01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A6, màu vàng, đã qua sử dụng, đây là tài sản cá nhân của Đ;
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F1S, màu hồng, đã qua sử dụng, đây là tài sản cá nhân của H;
+ 01 (một) chùm chìa khóa gồm 02 chìa trong đó: 01 chìa khóa có chiều dài 07cm, phần tay cầm bằng nhựa có ghi chữ "VUONG MIEN"; 01 chìa khóa có chiều dài 05cm, phần tay cầm bằng nhựa có ghi chữ “VUA MIEN" (công cụ H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội);
+ 01 (một) áo thun màu xanh trên áo có ghi chữ “PREMIUM BRAND”; 01 (một) quần Jean màu xanh; 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, trên dép có dòng chữ “NIKE”. Đây là trang phục Đ mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
+01 (một) áo thun có hoa văn màu xanh – đen - trắng; 01 (một) quần Jean màu đen 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, trên dép có ghi chữ “STEP FIRMILY", "REACH FURTHER". Đây là trang phục H mặc khi trộm cắp tài sản;
Tất cả vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ trên, Cơ quan điều tra Công an Quận X đã nhập kho vật chứng, chuyển Tòa án xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Văn Trúc L và bà Ngô Thị Chúc M (mẹ của chị L, là người sử dụng xe ngày 09/10/2022), không yêu cầu bồi thường hay khiếu nại, thắc mắc gì.
Tại Bản cáo trạng số 24/CT-VKSQ4 ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận X truy tố Thái Ngọc H, Nguyễn Tiến Đ tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng 24/CT-VKSQ4 ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận X truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X trình bày lời luận tội: Bảo lưu quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng 24/CT-VKSQ4 ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận X. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Thái Ngọc H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng; Nguyễn Tiến Đ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Thái Ngọc H, Nguyễn Tiến Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Thái Ngọc H, Nguyễn Tiến Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của các bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 09/10/2022, tại trước nhà số 884/1 B1, Phường E1, Quận X, Thái Ngọc H và Nguyễn Tiến Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe máy hiệu Honda Vision, biểu số: 59F1-857.88 của bà Ngô Thị Chúc M, có trị giá 15.500.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận X là có căn cứ.
. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, bị cáo Thái Ngọc H vừa là người khởi xướng vừa là người trực tiếp thực hiện tội phạm; bị cáo Đ là người giúp sức để tội phạm hoàn thành. Bản thân các bị cáo lười lao động, là người nghiện ma túy đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo Thái Ngọc H, Nguyễn Tiến Đ đều từng bị Tòa án kết án, chưa được xóa án tích, mà còn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, Khoản 1, Điều 52 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với vai trò của từng bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo mới đủ sức để răn đe, giáo dục. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Thái Ngọc H và Nguyễn Tiến Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên khi lượng hình cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản của bà Ngô Thị Chúc M bị chiếm đoạt là 01 (một) xe máy hiệu Honda Vision, biểu số:, 59F1-857.88, số khung RLHJF5815GY028904, số máy JF66E0028947. Qua xác minh, xe máy trên của bà Văn Trúc L (là con gái của bà Ngô Thị Chúc M) đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận X đã trao trả cho bà Văn Trúc L là chủ sở hữu. Bà L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường. Vì vậy phần bồi thường dân sự không có gì giải quyết.
. Về xử lý vật chứng:
+ 02 (hai) đĩa CD-R có chứa nội dung sự việc Thái Ngọc H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án;
- Thu giữ của Thái Ngọc H:
+ 01 (một) chùm chìa khóa gồm 02 chìa trong đó: 01 chìa khóa có chiều dài 07cm, phần tay cầm bằng nhựa có ghi chữ "VUONG MIEN"; 01 chìa khóa có chiều dài 05cm, phần tay cầm bằng nhựa có ghi chữ “VUA MIEN". Đây là công cụ H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F1S, màu hồng, đã qua sử dụng, H dùng để liên hệ với Đ thực hiện tội phạm nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước
+ 01 (một) áo thun có hoa văn màu xanh – đen - trắng; 01 (một) quần Jean màu đen 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, trên dép có ghi chữ “STEP FIRMILY", "REACH FURTHER", là trang phục H mặc khi trộm cắp tài sản, không có giá trị sử dụng; nên tịch thu tiêu hủy;
- Thu giữ của Nguyễn Tiến Đ:
+ 01 (một) xe máy hiệu WAVE, màu xanh, biển số 52X2-7604 đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra trưng cầu giám định số khung, số máy nguyên thủy của xe máy trên tại Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Y, kết quả số máy: VUMFCYG150FMG – 4L100548; số khung: bị băm mất số, nên Cơ quan điều tra không có thông tin chủ sở hữu. Đây là phương tiện Đ sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước;
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A6, màu vàng, đã qua sử dụng, Đ dùng để thực hiện tội phạm nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước
+ và 01 (một) áo thun màu xanh trên áo có ghi chữ “PREMIUM BRAND”; 01 (một) quần Jean màu xanh; 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, trên dép có dòng chữ “NIKE", là trang phục Đ mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Thái Ngọc H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 10 năm 2022.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Tiến Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 10 năm 2022.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
+ Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 02 (hai) đĩa CD-R có chứa nội dung sự việc Thái Ngọc H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản;
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chùm chìa khóa gồm 02 chìa trong đó: 01 chìa khóa có chiều dài 07cm, phần tay cầm bằng nhựa có ghi chữ "VUONG MIEN"; 01 chìa khóa có chiều dài 05cm, phần tay cầm bằng nhựa có ghi chữ “VUA MIEN"; 01 (một) áo thun có hoa văn màu xanh – đen - trắng; 01 (một) quần Jean màu đen 01 (một) đôi dép nhựa màu đen, trên dép có ghi chữ “STEP FIRMILY", "REACH FURTHER; và 01 (một) áo thun màu xanh trên áo có ghi chữ “PREMIUM BRAND”; 01 (một) quần Jean màu xanh; 01 (một) đôi dép nhựa màu xám, trên dép có dòng chữ “NIKE"
+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 (một) xe máy hiệu WAVE, màu xanh, biển số 52X2-7604 đã qua sử dụng, số máy: VUMFCYG150FMG – 4L100548; số khung: bị băm mất số; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F1S, màu hồng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A6, màu vàng, đã qua sử dụng
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 34/2023 ngày 19/01/2023 giữa Công an Quận X với Chi cục Thi hành án dân sự Quận X).
- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;
2. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: (1) - Bị cáo; (1) - Người tham gia tố tụng; (2) - CA TP.Y (PV 06); (1) - TAND TP.Y; (1) - Sở Tư pháp TP.Y; (2) - VKSND Quận X; (2) - Công An Quận X; (1) - Chi cục THADS Quận (3) X; (2) - THAHS Quận X - Lưu VT, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Xuân Quỳnh |