vanban.org

Bản án 08/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Y N 06 ( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 ( Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án ( 21/3/2023). Giao bị cáo Y N cho Ủy ban nhân dân xã Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y N " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HỒI
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-ST
Ngày: 21 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KONTUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Huyện và ông Nguyễn Đức Hưởng.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Điệp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Chinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21-3-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2023/HS-ST ngày 21-02-2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS, ngày 08- 3- 2023, đối với bị cáo:

Y N (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1993, tại tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn Kei Joi, xã Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Xê Đăng; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông A H, sinh năm 1957 và bà Y Bông (Đã chết); ông A H hiện đang sinh sống tại Thôn Kei Joi, xã Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Bị cáo chung sống với anh A M, sinh năm 1989 như vợ chồng, không đăng ký kết hôn ( Hiện tại không còn sống chung). Bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Vũ Ng, sinh năm 1956.

Trú tại: Tổ dân phố 1, thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Đức Ng, sinh năm 1985.

Trú tại: Hoàng Thị L, thị trấn P, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Chị Triệu Thị V, sinh năm 1993.

Trú tại: Thôn Đắk N, xã Đắk X, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Anh Vũ Hoàng D, sinh năm 1981.

Trú tại: Thôn Đắk N, xã Đắk X, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Y Th, sinh năm 1993.

Trú tại: Thôn Kei , xã Đắk X, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Y N đang sống một mình, làm nông và nuôi 4 con nhỏ tại thôn Kei Joi, xã Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Gần đây, Y N gặp khó khăn về kinh tế, không có tiền nuôi con nên phải vay nợ, do không có tiền trả nợ nên Y Nđã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền trả nợ và nuôi con. Thời gian trước đây, Y N đi làm thuê cho gia đình ông Vũ Ng, trú tại: TDP 1, TT Plei Kần, Ngọc Hồi, Kon Tum, nên có quen biết gia đình ông Ng và biết ông Ng đang sử dụng xe mô tô Honda Vision, màu đỏ đen, biển kiểm soát 82E1 – 178.27, ông Ngọc hiện sống một mình trong một dãy nhà ngang gồm 04 gian nhà liền kề. Buổi tối, ông Ng ngủ một mình ở gian nhà ngoài cùng bên trái và cất xe máy ở gian nhà ở giữa (sát bên cạnh). Y Niết gian nhà này do cửa đã bị hư hỏng nên khi dắt xe máy vào ông Ng không khóa cửa mà chỉ khép cửa và cài chốt phía dưới. Tối ngày 06/11/2022, Y Ni bộ từ nhà đến ngồi ở gốc cây trước nhà ông Ngọc để theo dõi, đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Y N thấy ông Ng về và dắt xe chiếc xe máy này vào gian nhà ở giữa, rồi đóng cửa tắt điện đi ngủ. Y N tiếp tục ngồi ở gốc cây đợi đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 07/11/2022, thì lén lút đi đến trước cửa nhà ông Ng, Y N thò tay qua khe hở ở phía dưới cửa và kéo chốt lên, mở cửa đi vào trong nhà thì nhìn thấy xe mô tô, chìa khóa vẫn cắm ở xe, nên lén lút dắt xe máy đi ra xa khỏi nhà ông Ng một đoạn, rồi nổ máy điều khiển xe về nhà. Khi về đến nhà Y N mở cốp xe thì thấy trong cốp xe có 01 (một) Đăng ký xe mô tô của xe mô tô trên, đứng tên Triệu Thị V và 02 (hai) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở, đứng tên Vũ Hoàng D và Triệu Thị V (là con trai và con dâu của ông Vũ Ng). Y N cất 02 (hai) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở này tại nhà mình. Đến 11 giờ 00 phút cùng ngày, Y N cầm theo Đăng ký xe rồi điều khiển chiếc xe máy trên đến Cửa hàng cầm đồ Đức Ng, nói với anh Nguyễn Đức Ng là chủ tiệm cầm đồ là xe của mình, rồi cầm cố chiếc xe này tại đây để lấy số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền có được từ việc cầm cố tài sản trộm cắp Y N đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá số 354/KL – HĐĐG ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ngọc Hồi kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển kiểm soát 82E1-178.27 có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 16.733.000 (Mười sáu triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKS- NH ngày 20 - 02 - 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi đã truy tố Y N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 06 ( Sáu) đến 09 ( Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 ( Mười hai) đến (Mười tám) tháng.

Giao bị cáo Y N cho Ủy ban nhân dân xã Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Bị cáo Y N là người đồng bào dân tộc thiểu số, hoàn cảnh kinh tế khó khăn; bị cáo làm nông, là phụ nữ nuôi con một mình thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 10.000.000 đồng mà anh Nguyễn Đức Ng yêu cầu bị cáo trả lại. Hiện bị cáo đã trả cho anh Ng nên không đề cập.

- Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Hồi đã trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển kiểm soát 82E1-178.27 và giấy tờ liên quan Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Vũ Ng và chị Triệu Thị V, nên không đề cập.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ngọc Hồi và Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Do trước đó Y N có thời gian làm thuê cho gia đình ông Nguyễn Ng ở TDP 1, TT Plei Kần, Ngọc Hồi, Kon Tum và biết ông Ngọc sống một mình, ông Ngọc thường để chiếc xe mô tô biển kiểm soát 82E1 – 178.27 ở gian ngang đã bị hư ổ khóa nên Y N nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu trong gia đình và trả nợ. Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 07/11/2022, lợi dụng đêm khuya vắng vẻ, xung quanh không có người qua lại, Y N lén lút đến trước cửa nhà ông Ngọc, thò tay qua khe hở ở phía dưới cửa để kéo chốt lên rồi mở cửa đi vào trong nhà. Y N nhìn thấy xe mô tô, chìa khóa vẫn cắm ở xe, nên dắt xe máy đi ra xa một đoạn, sau đó nổ máy điều khiển xe về nhà. Khi về đến nhà, Y N mở cốp xe thì thấy trong cốp xe có 01 (một) Đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 82E1 – 178.27 mang tên Triệu Thị V và 02 (hai) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở, đứng tên Vũ Hoàng D và Triệu Thị V. Y N cất 02 (hai) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở này tại nhà mình. Đến 11 giờ 00 phút cùng ngày, Y N cầm theo Đăng ký xe mô tô rồi điều khiển chiếc xe mô tô đến Cửa hàng cầm đồ Đức Ng cầm cố chiếc xe này tại đây để lấy số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Số tiền có được từ việc cầm cố tài sản trộm cắp Y N dùng vào việc tiêu xài cá nhân.

Trị giá chiếc xe mô tô bị cáo trộm cắp theo Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Ngọc Hồi kết luận là 16.733.000 (Mười sáu triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Tại thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo Y N là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của Y N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe để lao động tạo ra thu nhập nhưng chỉ vì muốn có tiền nhanh để giải quyết nhu cầu chi tiêu trong gia đình và trả nợ nên sa vào con đường phạm tội.

Về các tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Y N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang sống một mình và nuôi 04 con, con nhỏ nhất sinh năm 2021 ( dưới 36 tháng tuổi); bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã hoàn trả lại cho anh Nguyễn Đức Ng số tiền 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng) mà anh Ngọc bỏ ra cầm cố tài sản do bị cáo trộm cắp. Do vậy cần xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo trở thành công dân tốt.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích, HĐXX thấy rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Y N là người đồng bào dân tộc thiểu số, hoàn cảnh kinh tế khó khăn; bị cáo làm nông, là phụ nữ nuôi con một mình thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi cầm cố xe mô tô của anh Nguyễn Đức Ng thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa đã xác định rõ Nguyễn Đức Ng không biết đây là tài sản do bị cáo Y N trộm cắp mà có. Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Hồi không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Đức Ng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Nguyễn Ng đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng), là tiền mà anh Nguyễn Đức Ng bỏ ra để cầm cố chiếc xe mô tô mà Y N trộm cắp được. Nay bị cáo đã hoàn trả lại cho anh Ng. Giữa bị cáo và anh Ng không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập.

Về xử lý vật chứng :

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển kiểm soát 82E1-178.27, đăng ký xe mô tô mang tên Triệu Thị V. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử chứng minh chị Triệu Thị V và anh Vũ Hoàng D đã tặng cho ông Vũ Ng vào năm 2019. Ông Vũ Ng sử dụng từ đó đến nay. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Vũ Ng, là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với hai giấy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở, đứng tên Vũ Hoàng D và Triệu Thị V. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Triệu Thị V nên không đề cập.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi trình bày lời luận tội và đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo Y N là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo Y N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Y N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Y N 06 ( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 ( Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án ( 21/3/2023).

Giao bị cáo Y N cho Ủy ban nhân dân xã Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Y Nái.

2. Về xử lý vật chứng: Không.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ( Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội);

Buộc bị cáo Y N phải nộp là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21 - 3 - 2023), bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm.

Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ