- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý C bị truy tố về tội cố ý gây thương tích them điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý C phạm “Tội cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày 23-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thái Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Hồng Hiệp;
Bà Trần Thúy Kiều;
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Hồng Thủy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Lý C, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990 tại tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn Lớp 03/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý L và bà Thạch Thị Sa R; Bị cáo có vợ tên Thạch Thị Q và có 02 người con sinh năm 2012 và 2019; Tiền án: không, Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/12/2022 đến nay; Bị cáo có mặt tại tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lý C: Ông Nguyễn Văn N – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Bị hại: Bà Thị P, sinh năm 1953; Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lương Thị Ngọc H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Người làm chứng:
- Ông Lý K1, sinh năm 1948; Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Em Sơn Tuấn K, sinh ngày 12/01/2011; Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Người giám hộ của người làm chứng em Sơn Tuấn K: Bà Lý Thị L, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Trà Trường G - Nơi công tác: xã E, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/10/2022, sau khi đi uống rượu về nhà thì Lý C phát hiện vịt của mình bị mất. Nhớ lại việc Bà Thị P chửi nên tức giận và nảy sinh ý định gây thương tích cho Bà Thị P. Lúc này, Lý C đi đến giường ngủ của Lý C, lấy trên nóc mùng 01 cây dao (loại dao xếp dài 25cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11,5cm có mũi nhọn và loại một lưỡi sắc, cán dao bằng kim loại màu vàng - xanh - đen dài 13,5cm) rồi bỏ vào túi quần bên phải, sau đó đi bộ qua nhà Bà Thị P. Khi đến trước hàng ba nhà Bà Thị P thì Lý C nhìn thấy Bà Thị P, ông Lý K1 là chồng Bà Thị P, Sơn Tuấn K là cháu Bà Thị P và Sơn Ngọc Q1 là cháu Bà Thị P đang ở trong nhà. Lý C hỏi Bà Thị P “có thấy vịt của tôi không”, thì Bà Thị P trả lời “có con vịt nào của con thì con bắt đi” và Bà Thị P kêu Lý C cùng đi ra nhà sau để kiếm vịt. Sau đó, Bà Thị P đi trước, Lý C theo sau và Tuấn K cũng đi theo. Khi đến gần chuồng nuôi gà, vịt thì Lý C dùng tay phải lấy con dao trong túi quần bên phải ra và bấm lưỡi dao bật ra rồi kêu Bà Thị P quay lại. Khi Bà Thị P vừa quay lại thì Lý C dùng dao đâm thẳng vào vùng bụng của Bà Thị P. Lúc này, Bà Thị P và K kéo tay Lý C ra thì Lý C nói “buông đi, con không đâm nữa đâu” và Lý C rút dao ra rồi đi về nhà, còn Bà Thị P được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 513/TgT-PY ngày 25/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng kết luận: Thị P bị gây thương tích như sau:
- Sẹo phẩu thuật và sẹo vết thương trùng nhau vùng giữa kích thước lớn, bề mặt bờ vết sẹo sắc gọn, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 03%;
- Thủng dạ dày vùng thân một lổ và mặt sau một lổ đã được phẩu thuật, siêu âm hiện tại chưa thấy bất thường, kích thước 15cm x 01cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 30%;
- 02 sẹo dẫn lưu sườn trái và hố chậu phải kích thước trung bình; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 02% và 02%;
- Hiện tại gây hạn chế ít chức năng vai trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15%;
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 35%, tổn thương do vật có cạnh sắc gây nên; tổn thương vùng bụng là vùng nguy hiểm đến tính mạng.
Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng Công văn số 226/TTPY-GĐTH ngày 05/12/2022 giải đáp nếu không tính 02 vết sẹo dẫn lưu thì tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bà Thị P do thương tích gây nên là 32% (ba mươi hai phần trăm), tổn thương do vật có cạnh sắc gây nên; tổn thương vùng bụng là vùng nguy hiểm đến tính mạng.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Phú đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lý C về tội cố ý gây thương tích.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, thể hiện ý chí ăn năn hối cải. Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; có ông nội là người có công với cách mạng.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã thu giữ 01 cây dao (loại dao xếp dài 25cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11,5cm có mũi nhọn và loại một lưỡi sắc, cán dao bằng kim loại màu vàng - xanh - đen dài 13,5cm). (Hiện đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú quản lý).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thị P yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí trong thời gian điều trị, tổn thất tinh thần và ngày công lao động đối với người chăm sóc khi điều trị với tổng số tiền là 35.071.136 đồng. Bị cáo thống nhất bồi thường nhưng chưa bồi thường số tiền nêu trên cho bị hại.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSLP, ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Lý C về “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, thể hiện ý chí ăn năn hối cải. Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; có ông nội là người có công với cách mạng.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo Lý C khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra cũng như Cáo trạng đã nêu.
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú bổ sung thêm phần nhân thân của bị cáo có bà nội là người có công với cách mạng để làm rõ nội dung trong cáo trạng. Nhưng vẫn giữ nguyên bản cáo trạng về việc đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Lý C phạm “Tội cố ý gây thương tích”.
+ Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Lý C mức hình phạt từ 05 năm đến 06 năm tù.
+ Về vật chứng: Áp dụng điểm a Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 cây dao (loại dao xếp dài 25cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11,5cm có mũi nhọn và loại một lưỡi sắc, cán dao bằng kim loại màu vàng - xanh - đen dài 13,5cm) (do Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú quản lý).
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo, bị cáo trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 35.071.136 đồng. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm cũng như được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Nguyễn Văn N thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng trình bày tranh luận: Bị cáo chấp nhận toàn bộ cáo trạng, chấp nhận mức đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đưa ra. Sự việc diễn biến ngày 14/10/2022 do xuất phát từ sự nóng giận của bị cáo. Bị cáo hoàn toàn không muốn gây thương tích cho bị hại. Trong trường hợp nếu muốn gây thương tích lúc gặp bị hại thì bị cáo đã thực ngay hành vi đó chứ không phải đợi đến khi ra sau nhà đến khu vực nuôi nhốt vịt, gà mới ra tay đối với bị hại. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt là 05 năm tù để bị cáo cải tạo, sớm trở về lo cho vợ, con và bồi thường cho bị hại. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo nên đề nghị xem xét cho bị cáo được miễn án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016
Bị cáo Lý C: Thống nhất với tranh luận của Luật sư bào chữa. Bị cáo đã gửi lời xin lỗi đến bị hại, mong được bị hại tha thứ về hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là bà Lương Thị Ngọc H Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng trình bày tranh luận: Chấp nhận cáo trạng, chấp nhận luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú và đề nghị xử nghiêm đối với bị cáo với mức hình phạt 06 năm tù.
Bị hại Bà Thị P: Đề nghị xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Lời nói sau cùng của bị cáo Lý C: Mong hội đồng xét xử xử nhẹ để bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình, nuôi hai con nhỏ và lao động kiếm tiền bồi thường cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xét xử vắng mặt: Người là chứng là ông Lý K1 vắng mặt. Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình điều tra ông Lý K1 đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Về hành vi của bị cáo: Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa cho thấy: bị cáo Lý C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 513/TgT-PY ngày 25/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng, Công văn số 226/TTPY-GĐTH ngày 05/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng và phù hợp với vật chứng đã thu được, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Do nghe Bà Thị P thường xuyên chửi vô cớ về việc gà, vịt bị mất và nghĩ là chửi mình nên đã gây cho bị cáo sự bực tức trong lòng. Do đó vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/10/2022 sau khi uống rượu về thấy vịt bị mất cũng như nhớ lại việc Bà Thị P thường xuyên chửi khi bị mất vịt nên Lý C nảy sinh ý định gây thương tích cho Bà Thị P, Lý C lấy một cây dao (loại dao bấm) để trên nóc mùng chỗ Lý C ngủ bỏ vào túi quần bên phải và đi qua nhà Bà Thị P tại Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng rồi dùng dao đâm trúng vào vùng bụng của Bà Thị P gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 32%. Bị cáo Lý C là người có năng lực trách nhiệm hình sự (đủ tuổi và có năng lực hành vi dân sự) là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó có đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi do Lý C thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của Bà Thị P.
[3.1] Do đó hành vi của bị cáo Lý C đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lý C đã có những hành vi mang theo 01 cây dao (loại dao xếp dài 25cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11,5cm có mũi nhọn và loại một lưỡi sắc, cán dao bằng kim loại màu vàng - xanh - đen dài 13,5cm) đến tận nhà của bị hại. Sau khi cùng với bị hại đi đến nơi bị hại nuôi nhốt gà, vịt mặc dù lúc đi đến cũng như đi vào nhà và đi ra tận nuôi nhốt gà, vịt giữa bị cáo và bị hại không có bất kỳ sự cự cãi hoặc phát sinh mâu thuẫn với nhau từ trước nhưng bị cáo đã dùng cây dao mang theo đâm thẳng vào vùng bụng của bị hại Thị P khi bị hại vừa quay lại gây nên thương tích 32% sau khi đã trừ vết sẹo dẫn lưu. Bị cáo Lý C đã có hành vi xem thường pháp luật, xem thường tính mạng sức khỏe của người khác và sẵn sàng dùng hung khí nguy hiểm đối với bị hại Thị P mà không cần lý do. Bị cáo Lý C đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại Thị P nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, giúp cho bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật cũng như quy tắc của cuộc sống góp phần phòng chống tội phạm trên địa bàn.
Trong phần tranh luận, sau khi Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú đề nghị mức hình phạt, Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức 05 năm tù. Tuy nhiên người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo nghiêm khắc với mức hình phạt 06 năm tù. Đối với bị hại thì đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy rằng: Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lý C không có tình tiết tăng nặng. Bên cạnh đó cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng cho bị cáo Lý C để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa. Bên cạnh đó, bị cáo gửi lời xin lỗi đến bị hại thể hiện sự ăn năn hối cải. Ngoài ra cần xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ để cho các bị cáo được hưởng như: Người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế và gia đình của bị cáo có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Bị hại Thị P cũng không gay gắt trong việc đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo. Do đó, việc áp dụng mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo Lý C và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về xử lý vật chứng: 01 cây dao (loại dao xếp dài 25cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11,5cm có mũi nhọn và loại một lưỡi sắc, cán dao bằng kim loại màu vàng - xanh - đen dài 13,5cm). Hội đồng xét xử xét thấy đây là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tội nên áp dụng a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy là cần thiết.
Đối với phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Thị P yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 35.071.136 đồng đồng. Lời khai của bị cáo Lý C trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại đưa ra. Nhưng do hoàn cảnh kinh tế gặp khó khăn nên bị cáo chưa bồi được cho bị hại. Các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng chỉ thể hiện lời trình bày của mỗi bên. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo và bị hại mới thống nhất được số tiền bồi thường và Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 35.071.136 đồng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm f Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Ngoài ra bị cáo còn phải chịu nghĩa vụ chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Do đó Kiểm sát viên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với phần bổ sung nội dung cáo trạng của Kiểm sát viên tại phiên tòa để làm rõ thêm về nhân thân của bị cáo mà không làm thay đổi nội dung cáo trạng, không làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và việc áp dụng pháp luật là có căn cứ và phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo đã thực hiện nên được chấp nhận. Ý kiến tranh luận Người bào chữa cho bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lý C phạm “Tội cố ý gây thương tích”.
1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lý C: 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2022.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao (loại dao xếp dài 25cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng dài 11,5cm có mũi nhọn và loại một lưỡi sắc, cán dao bằng kim loại màu vàng - xanh - đen dài 13,5cm) đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/4/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa giữa bị cáo Lý C với bị hại Thị P về việc bị hại và buộc bị cáo Lý C phải bồi thường cho bị hại Thị P số tiền 35.071.136 đồng (Ba mươi lăm triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, một trăm ba mươi sáu đồng).
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc khi đến hạn trả tiền, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
- Buộc bị cáo Lý C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.753.557 (Một triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn năm trăm năm mươi bảy) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được miễn nộp do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
- Bị hại không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
- Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Bị cáo Lý C và bị hại Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA); - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Long Phú; - Cơ quan ĐT Công an huyện Long Phú; - Cơ quan Hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Long Phú; - Cơ quan THAHS Công an huyện Long Phú; - Nhà tạm giữ Công an huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện Long Phú; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HSVA; HSTHAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thái Ngọc |