- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh P "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày: 23 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hoàng Anh Dũng.
Ông Phạm Văn Ven.
- Thư ký phiên tòa: Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia
phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 11
năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 06
tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thanh P (tên gọi khác: S), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982; tại: Long
An; Nơi cư trú: Ấp H 1, xã H, huyện Đ, tỉnh L; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học
vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Lê Văn H và bà Võ Thị H1; có vợ là: Trần Thị Mộng T, sinh năm: 1994 và
chưa có con chung; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày
23/7/2022 đến ngày 10/11/2022 được gia đình bảo lãnh tại ngoại. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Trần Tuấn A - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: Tổ 2, ấp T, thị trấn E, huyện
T, tỉnh A. (Vắng mặt)
2. Ông Trần Khánh T1 - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Số 55 đường số 16,
phường 4, quận 4, Thành phố H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do thường xuyên chạy xe chở khách đến khu vực cửa khẩu Mỹ Quý Tây,
huyện Đức Huệ, tỉnh Long An nên Lê Thanh P, có quen biết với một người tên Đ (không rõ nhân thân lai lịch). Đến khoảng giữa tháng 07/2022, Đ có nói với P là có một người quen đang cần người biết lái xe để làm việc, nếu P nhận làm thì người này sẽ điện thoại trao đổi. Sau đó, P cho Đ số điện thoại để tiện liên lạc. Đến ngày 22/7/2022, P nhận được điện thoại từ một người tên “T2” (không rõ nhân thân, lai lịch). Người này đề nghị P đi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho mình từ khu vực xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An về đường Ba Mươi Sáu Mét thuộc huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Thỏa thuận mỗi chuyến tiền công là 1.300.000 đồng, giao thuốc xong sẽ nhận được tiền công, P đồng ý. Đến khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 23/7/2022, dựa theo hướng dẫn của “T2”, P đi xe ôm lên khu vực chợ Tho Mo rồi đến cây xăng Tho Mo để nhận 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Vios, màu bạc, gắn biển số 67A-131.78 đang đậu tại đây. Sau khi nhận xe, P điều khiển chạy theo hướng đường ấp 3, xã M được 03 km thì dừng lại tại bãi đất trống ven đường và đợi. P đậu chờ khoảng 10 phút thì nhìn thấy có 05 (năm) người đàn ông điều khiển xe mô tô chở theo thuốc lá nhập lậu đến và cất giấu lên xe ô tô 67A-131.78. Chất thuốc xong, những người này rời đi còn P điều khiển xe ô tô 67A-131.78 chở theo thuốc lá ngoại theo hướng về Thành phố H để giao cho “T2”. Tuy nhiên, khoảng 05 giờ ngày 23/7/2022, khi P đang đi đến đoạn gần khu vực Cầu Bà Vòm tỉnh lộ 838 thuộc ấp 2, xã M, huyện Đ, tỉnh L thì bị lực lượng Công an huyện Đức Huệ bắt quả tang. Tại thời điểm bị bắt, dưới sự kiểm đếm trực tiếp của P lực lượng Công an phát hiện trên xe ô tô 67A-131.78 mà P điều khiển có chứa 10.200 (mười nghìn hai trăm) bao thuốc lá ngoại gồm: 8400 bao hiệu Jet, 1800 bao hiệu Hero.
Đây là lần đầu tiên P thực hiện hành vi vận chuyển thuốc lá nhập lậu chưa
nhận được tiền công vận chuyển .
Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, màu bạc, biển kiểm soát
67A-131.78. Qua điều tra xác định xe ô tô nói trên do ông Trần Tuấn A, đứng tên sở hữu. Ngày 20/6/2022 ông Trần Tuấn A cho công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ và du lịch Khánh Thiện (gọi tắt là công ty Khánh Thiện) do ông Trần Khánh T1 làm giám đốc, thuê với giá 10.000.000 (Mười triệu) đồng/tháng. Thời gian cho xe thuê từ ngày 20/6/2022 đến ngày 19/6/2023. Mục đích thuê xe để làm phương tiện kinh doanh. Đến ngày 28/6/2022, Công ty Khánh Thiện làm hợp đồng cho người đàn ông tên Trần Văn Tuấn, sinh năm 1990, ngụ tại ấp Gò Sao, xã Tân Phú, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thuê lại xe ô tô 67A-131.78, với giá 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng/tháng. Thời gian thuê xe từ ngày 28/6/2022 đến ngày 28/9/2022. Mục đích thuê xe để làm phương tiện kinh doanh.
Qua làm việc, xác định ông Trần Tuấn A và công ty Khánh Thiện không có
mối quan hệ, không liên quan gì đến việc Lê Thanh P và không rõ vì sao xe ô tô
67A-131.78 được P sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
Xét thấy, ông Trần Tuấn A và công ty Khánh Thiện không có lỗi trong vụ án
và việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết tiếp theo của vụ án.
Ngày 26/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ đã ra Quyết
định xử lý vật chứng số 32/QĐ-CQCSĐT-KT trả lại tài sản cho công ty Khánh
Thiện. Công ty đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số: 60/CT-VKSĐH ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát
nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Lê Thanh P về tội “Vận chuyển hàng
cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ vẫn giữ
nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, sau khi phân tích tính chất của hành vi
và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ: điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều
54, Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thanh P từ 04 đến
05 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố
tụng Hình sự.
Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu câu xem xét lại nên
không xem xét.
- Số lượng 10.200 (mười nghìn hai trăm) bao thuốc lá điếu (gồm: 8.400 bao
thuốc lá nhãn hiệu JET và 1.800 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO), là thuốc lá điếu
nhập lậu, không có hóa đơn chứng từ, không thông qua khai báo thuế, là mặt hàng
Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
NOKIA, màu xám bên trong gắn sim số 0768.576.038, đã qua sử dụng, xác định
điện thoại của bị cáo sử dụng liên lạc khi thực hiện tội phạm.
Đối với những người liên quan đến vụ án, gồm người đàn ông tên “Đ” và
“T2” và những người chất thuốc lên xe cho bị cáo. Do chỉ căn cứ vào lời khai của
bị cáo không thể xác định nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên nên không mời
làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với người đàn ông tên Trần Văn T3, thuê lại xe ô tô 67A-131.78 của
Công ty Khánh Thiện. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ tiến
hành xác minh tại Công an xã P, huyện Đ, tỉnh A kết quả không xác định được
nhân thân lai lịch của người này, không mời làm việc được nên tiếp tục điều tra,
làm rõ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự tại phiên tòa:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Tuấn A và Trần Khánh
T1 vắng mặt tại phiên tòa, trong lời khai trình bày đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết
việc làm là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hứa không tài phạm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều
tra, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đều thực hiện đúng và hợp pháp. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.
Vào ngày 23/7/2022 (khoảng 03 giờ 00 phút) Lê Thanh P nhận lời vận
chuyển thuê thuốc lá cho người khác (một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch chỉ biết là T2) nên dùng 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Vios, màu bạc, biển kiểm soát 67A-131.78 vận chuyển 10.200 (mười nghìn hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm: 8.400 bao bao thuốc lá nhãn hiệu JET và 1.800 bao bao thuốc lá nhãn hiệu HERO), từ khu vực ấp 3, xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ về huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa về số thuốc lá 10.200 bao. Bị cáo vận chuyển thuê nhận tiền công mỗi chuyến 1.300.000 đồng. Khi P đang vận chuyển đến khu vực cầu Bà Vòm thuộc ấp 2, xã Mỹ Quý Tây thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang người và tang vật.
Tại phiên toà, bị cáo Lê Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An lập lúc 05 giờ 10 phút, ngày 23/7/2022 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Lê Thanh P phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng số: 60/CT-VKS-ĐH ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Lê Thanh P với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Lê Thanh P là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng
đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện
với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên từ đó bị cáo nhận lời vận chuyển hàng hóa là
thuốc lá ngoại không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa từ khu vực biên giới
ấp 3, xã M, huyện Đ về huyện H với số lượng 10.200 bao. Số lượng thuốc bị cáo
vận chuyến gấp 2,2 lần định lượng khởi điểm (4.500 bao). Hành vi này của bị cáo P
phải được xử lý nghiêm. Xét thấy, bị cáo là người làm thuê nên cần áp dụng Điều
54 Bộ luật Hình sự, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tác dụng giáo dục
và phòng ngừa.
Ngoài hình phạt chính ra không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo
khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Vì hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn,
bản thân bị cáo không có việc làm ổn định.
Xét thấy, bị cáo Lê Thanh P trong quá trình truy tố và xét xử thật thà
khai báo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có bà cố là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, bản
thân là lao động chính trong gia đình, vợ đang mang thai, gia đình bị cáo khó khăn
được chính quyền địa phương xác nhận là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó khi
lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo
Lê Thanh P là có cơ sở theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sư: ông Trần Tuấn A và Trần Khánh T1 - Vắng mặt
tại phiên tòa trong lời khai trình bày đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi
thường tiếp theo. Do không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau
này phát sinh yêu cầu thì tách ra giải quyết bằng một vụ án khác
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật
Tố tụng Hình sự.
Phần cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không
xem xét
Đối với số lượng 10.200 (mười nghìn hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu
(gồm: 8.400 bao thuốc lá nhãn hiệu JET và 1.800 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO), là
thuốc lá điếu nhập lậu, không có hóa đơn chứng từ, không thông qua khai báo thuế, là
hàng hóa Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xám bên trong
gắn sim số 0768.576.038, đã qua sử dụng, xác định điện thoại của bị cáo sử dụng
liên lạc thực hiện tội phạm nên tịch thu sung vào ngân sách.
- Bị cáo chưa nhận tiền công nên không đề cập thu hồi lại.
Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.
Đối với những người giới thiệu, người thuê bị cáo, người giao nhận
thuốc cho bị cáo, cùng một số người khác mua hàng cấm không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp. Nhằm không bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Thanh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều
32, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự; Các Điều 299, 326 và 327 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính ngày bị cáo
chấp hành hình phạt tù nhưng được khấu trừ thời gian bắt tạm giữ, tạm giam (từ ngày 23/7/2022 đến ngày 10/11/2022).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố
hình Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 10.200 bao thuốc lá ngoại (gồm: 8.400 bao thuốc lá nhãn
hiệu JET và 1.800 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO) theo quy định hiện hành.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn
hiệu NOKIA, màu xám bên trong gắn sim số 0768.576.038.
Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thanh P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời
hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 23/02/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Huệ; - Công an huyện Đức Huệ; - CC.THADS huyện Đức Huệ; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triến |