vanban.org

Bản án 08/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Nhựt L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Nhựt L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 13/10/2022. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Ph, buộc bị cáo Lê Nhựt L bồi thường thiệt hại tổng số tiền bằng 18.965.000 đồng. Trong đó, tiền khám chữa bệnh L 16.865.000 đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nhựt Linh - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Nhựt L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-ST
Ngày 16 – 3 – 2023

NHÂN DANH

N CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Ph - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Trần Công Đoàn

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Chí Đệ L Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Phạm Hoài Hận - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Nhựt L, sinh ngày 31/10/2004, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp Hiệp Th, xã Việt Th, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lm thuê; trình độ học vấn: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/12/2021 bị Công an xã Việt Th, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị bắt tạm giam kể từ ngày 13/10/2022 cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Hoàng H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà N tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 2001; nơi cư trú: Ấp Tân Ph, xã Đông H, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Chị Lê Thị N, sinh năm 1985, nơi cư trú: Ấp Tân Ph, xã Đông H, huyện Cái N, tỉnh Cà Mau (có mặt).

+ Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1979, nơi cư trú: Ấp Hiệp Th, xã Việt Th, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 04/10/2022, Nguyễn Văn Ph gặp Lê Nhựt L tại cầu Chà L thì xảy ra cự cãi với nhau. L thách thức Ph vào chợ Chà L, xã Trần Ph đánh nhau. Ph vào chợ Chà L mua đồ thì gặp L, Ph xuống xe hai tay cầm 02 cây dao Thái Lan xông đến đâm trúng vào lưng của L gây thương tích. L bỏ chạy khoảng 20m thì vào bụi rậm lấy 01 cây dao tự chế đã cất giấu từ trước, L đi đến quán cà phê Như Ý thuộc ấp Chà L để đón Ph về Cái N. Khi thấy Ph về gần đến quán N L kêu Ph dừng xe, lúc này Ph xuống xe, hai tay cầm 02 cây dao nêu trên đến chỗ L thì bị L dùng cây dao tự chế chém 01 cái trúng vào tay trái và sườn trái của Ph gây thương tích. Ph đi lại vị trí đậu xe, bỏ 02 cây dao xuống cặp lộ, sau đó được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa Cà Mau điều trị, còn L bỏ trốn. Ngày 07/10/2022, L đến Công an xã Trần Ph đầu thú.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 195/TgT-22 ngày 10/10/2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Cà Mau đối với thương tích của Nguyễn Văn Ph như sau:

- 01 vết thương 1/3 dưới mặt sau cánh tay trái, kích thước: 07cm x 0,1cm, tỷ lệ 02%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

- 01 vết thương ngang lưng đường nách sau xương sườn IX đến số X bên trái, kích thước: 14,5cm x 0,2cm, tỷ lệ 02%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

- 01 vết đứt dẫn lưu khoảng liên sườn VI đường nách giữa bên trái, kích thước: 1,5cm x 1,5cm, tỷ lệ 01%.

- Đứt cung sau xương sườn IX bên trái, tỷ lệ 02%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

- Đứt cung sau xương sườn X bên trái, tỷ lệ 02%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

- Đứt cơ hoành đã khâu cơ hoành, tỷ lệ 21%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

- Tràn khí màn phổi trái đang dẫn lưu, đứt thùy dưới phổi trái đã khâu, đứt thần kinh bì cánh tay sau. Tại thời điểm giám định chưa đánh giá được chức năng đề nghị giám định bổ sung sau 45 ngày.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ y tế L 28%.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 220/TgT-22 ngày 16/11/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận thương tích của Nguyễn Văn Ph như sau:

- Tổn thương màng phổi (tràn khí + tràn dịch) trái đã dẫn lưu hiện tại không dày dình màng phổi, tỷ lệ 04%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

- Đứt thùy dưới phổi trái đã khâu hiện tại trên phim CT-Scanner ngực không thấy di chứng, tỷ lệ 08%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

- Đứt thần kinh bì cánh tay sau (nhánh dây thần kinh quay), tỷ lệ 13%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ y tế L 23%.

Kết luận khác: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 195/TgT-22 ngày 10/10/2022 và Bản kết luận giám định pháp y bổ sung về thương tích L 45%.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 194/TgT-22 ngày 12/10/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận thương tích của Lê Nhựt L như sau: 01 vết thương cách bờ dưới xương bả vai phải 03cm, kích thước 01cm x 0,5cm, tỷ lệ 01% do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật nhọn gây ra. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ y tế L 01%.

Bản Cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 04/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Lê Nhựt L phạm tội “cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm luận tội và trình bày ý kiến tranh luận: Vào ngày 04/10/2022, Ph và L gặp nhau tại Chà L thì xảy ra cự cãi, dẫn đến đánh nhau. Ph dùng dao L hung khí nguy hiển đâm vào lưng L 01 cái gây thương tích 01 %; L dùng dao tự chế L loại hung khí nguy hiểm chém Ph gây thương tích 45%. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị xét xử bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng truy tố và tuyên bố bị cáo L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L mức án từ 05 năm đến 5 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 590 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo L bồi thường cho anh Ph tổng các chi phí gồm tiền khám chữa bệnh và tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện L 18.965.000 đồng nH đối trừ với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng L 02 cây dao Thái Lan do chị N không có yêu cầu nhận lại.

Đối với Nguyễn Văn Ph đã bị khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, nH trong giai đoạn truy tố Lê Nhựt L đã rút yêu cầu xử lý hình sự. Do đó, đình chỉ vụ án đối với bị can Nguyễn Văn Ph theo quy định tại khoản 2 Điều 155, Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí hình sự và án phí dân sự bị cáo Lê Nhựt L phải chịu theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất theo tội danh Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có tác động đến gia đình để nộp khắc phục hậu quả cho bị hại, sau khi xảy ra sự việc bị cáo tự nguyện đến Công an xã Trần Ph đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa có tiền án, cha bị cáo đã chết, mẹ bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ. Về trách nhiệm dân sự bị cáo và bị hại đã thống nhất được mức bồi thường nên không có ý kiến.

Bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đồng ý bồi thường cho anh Ph tổng số tiền 18.965.000 đồng.

Đối với bị hại anh Ph yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 18.965.000 đồng.

Chị Nguyễn Thị X đã nộp khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi số tiền 1.000.000 đồng, chị xác định L bị cáo L tác động đến gia đình nộp khắc phục hậu quả cho bị hại, chị không có yêu cầu gì.

Chị Lê Thị N không yêu cầu nhận lại 02 cây dao mà cơ quan điều tra đã thu giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo L khai nhận: Vào ngày 04/10/2022, tại ấp Chà L, xã Trần Ph, huyện Đầm Dơi bị cáo có hành vi dùng dao tự chế L loại hung khí nguy hiểm chém vào tay và hong sườn trái của anh Ph gây thương tích với tỷ lệ 45%.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định thương tích của anh Ph L do bị cáo gây ra.

Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nH thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a, Hung khí nguy hiểm….

Khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

c, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nH thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.

Hành vi của Lê Nhựt L đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo L đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức được việc dùng dao L hung khí nguy hiểm chém người khác là vi phạm pháp luật, sẽ gây thương tích, thậm chí có thể ảnh hưởng đến tính mạng của họ, nH bị cáo bất chấp pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác, bị cáo đã bất chấp pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và mong muốn hậu quả xảy ra. Tuy nhiên, cần xem xét ở thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa Th niên nên cần áp dụng nguyên tắc về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã nộp khắc phục một phần hậu quả, sau khi xảy ra sự việc bị cáo tự nguyện đến Công an xã Trần Ph đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Nhân thân: Ngày 26/12/2021 bị Công an xã Việt Th, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa chấp hành xong. Dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng do bị cáo có nhân thân xấu nên không được xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

Xét đề nghị của người bào chữa L phù hợp nên được chấp nhận.

Về tránh nhiệm dân sự: anh Ph yêu cầu bị cáo bồi thường tiền khám chữa bệnh L 16.865.000 đồng; tiền mất thu nhập trong 7 ngày nằm viện, mỗi ngày 300.000 đồng bằng 2.100.000 đồng, tổng cộng L 18.965.000 đồng; bị cáo L đồng ý bồi thường theo yêu càu của anh Ph.

Xét thấy: Yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh Ph được bị cáo đồng ý nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 cây dao của chị Lê Thị N, chị N không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy L phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn Ph đã bị khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, nH trong giai đoạn truy tố Lê Nhựt L rút yêu cầu xử lý hình sự nên đã đình chỉ vụ án đối với bị can Nguyễn Văn Ph theo quy định tại khoản 2 Điều 155, Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, không đặt ra xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật tương ứng với số tiền bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 101 và khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, 585 Điều 590 của Bộ luật dân sự; Căn cứ điểm a, c, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Nhựt L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Nhựt L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 13/10/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Ph, buộc bị cáo Lê Nhựt L bồi thường thiệt hại tổng số tiền bằng 18.965.000 đồng. Trong đó, tiền khám chữa bệnh L 16.865.000 đồng; tiền mất thu nhập 2.100.000 đồng. Đối trừ số tiền bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả 1.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại L 17.965.000 đồng (mười bảy triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Anh Nguyễn Văn Ph được nhận số tiền 1.000.000 đồng mà chị Nguyễn Thị X đã nộp thay cho bị cáo theo biên lai thu tiền số 0000359 ngày 14/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

Kể từ ngày anh Nguyễn Văn Ph có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền trên cho đến khi thi hành án xong, thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 cây dao dài 17,8 cm, cán nhựa màu đen dài 10 cm, lưỡi kim loại, mũi nhọn.

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi quản lý)

5. Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Nhựt L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Nhựt L phải chịu 898.250 đồng (tám trăm chín mươi tám nghìn hai trăm năm mươi đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền Lm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền Lm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ/.

Cỡ chữ