vanban.org

Bản án 08/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 10/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 01 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T bị truy tố về tội "vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-ST
Ngày 10-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU – TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Phúc;

2. Bà Trần Thị Bích Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sơn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/10/1991 tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Kim A; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: Ngày 20/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử tuyên phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 01/02/2016; ngày 16/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng, chấp hành xong ngày 07/3/2019; ngày 15/01/2020 bị Công an xã An Thạnh, huyện Bến Cầu xử phạt 750.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2023 cho đến nay. “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 06/01/2023, tại ấp B, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Bến Cầu phát hiện Nguyễn Văn T đi bộ mang vác 01 bao tải màu xanh có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong bao tải màu xanh có chứa 06 vật thể hình hộp, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có dòng chữ KS4-4911A, mỗi vật thể có kích thước 17 x 17 x 10 cm, tổng khối lượng 10,5 kg, nghi vấn là pháo nổ, nên lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ người và vật chứng để làm rõ.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 06/01/2023, Nguyễn Văn T gặp một người đàn ông tên Ngun (không rõ nhân thân, lai lịch) mà T quen trước đó tại khu vực đường Xuyên Á thuộc ấp X xã Y, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Ngun thuê T vận chuyển pháo nổ từ khu vực đường 1A thuộc ấp Thuận Tây, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu đến khu vực gần cầu “Bến Đình” thuộc ấp B, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu với tiền Công 200.000 đồng/chuyến, T đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Ngun điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến nhà T tại ấp Chánh, xã An Thạnh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, chở T đi vận chuyển pháo nổ. Khi đến khu vực đường 1A , thấy 01 bao tải để sẳn bên đường bên trong có chứa pháo nổ, T đến lấy để phía sau xe mô tô, Ngun chở T đi giao pháo nổ. Đến 19 giờ 00 cùng ngày, khi đến khu vực cầu “Bến Đình”, Ngun kêu T kêu T mang bao tải chứa pháo nổ đi bộ vào trong bãi đất trống gần đó để giao pháo nổ thì bị bắt quả tang.

Tại kết luận giám định số: 828/KL-KTHS ngày 11/01/2023 của Phân viện khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 06 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3 cm gửi đến giám định tất cả điều là pháo nổ (pháo hoa nổ); khi đốt bay lên cao, nổ vá phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 10,5 kg.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/01/2023, thu giữ:

+ 06 (sáu) vật thể hình hộp, kích thước 17 cm x 17 cm x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc và trên giấy có dòng chữ KS4-4911A.

+ 01 (một) bao tải màu xanh (đã qua sử dụng).

Nguyễn Văn T không có tài sản nên không kê biên.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKSBC ngày 24 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 (một) 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay: Bị cáo T thống nhất với bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Bị cáo Nguyễn Văn T có thỏa thuận với người đàn ông tên Ngun (không rõ nhân thân, lai lịch) để vận chuyển pháo nổ từ khu vực đường 1A thuộc ấp Thuận Tây, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đến khu vực cầu “Bến Đình” thuộc ấp B, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh với giá 200.000 đồng. Vào 18 giờ 00 phút ngày 06/01/2023, Ngun chở bị cáo T đi vận chuyển pháo nổ, đến khu vực cầu “Bến Đình” thì bị cáo T mang bao tải chứa pháo nổ đi bộ vào trong bãi đất trong gần đó để giao pháo nổ thì bị bắt quả tang. Tại kết luận giám định số: 828/KL-KTHS ngày 11/01/2023 của Phân viện khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 06 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 17 cm x 17 cm x 10 cm bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3 cm gửi đến giám định tất cả điều là pháo nổ (pháo hoa nổ); khi đốt bay lên cao, nổ vá phát ra ánh sáng màu; tổng khối lượng là 10,5 kg.

Lời khai của bị cáo T phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo T biết việc vận chuyển pháo nổ bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vì hám lợi, bị cáo cố tình vận chuyển để nhận tiền. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã thực hiện.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 20/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử tuyên phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong ngày 01/02/2016, đã được xóa án tích; ngày 16/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng, chấp hành xong ngày 07/3/2019, đã được xóa tiền sự; ngày 15/01/2020 bị Công an xã An Thạnh, huyện Bến Cầu xử phạt 750.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt, hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, bị cáo không biết lấy đó làm bài học nên cần xem xét khi lượng hình.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Bởi lẽ bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng có nhân thân xấu. Do đó xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật.

Đối với người đàn ông tên Ngun thuê bị cáo Nguyễn Văn T vận chuyển pháo nổ, do không rõ nhân thân lai lịch nên không làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo T có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo T tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 06 (sáu) hộp pháo hoa nổ, dạng hình hộp chữ nhật, có kích thước 17 cm x 17 cm x 10 cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống hình trụ tròn dài 1 cm, đường kính 2,3 cm, có khối lượng 10,5 kg là pháo nổ (pháo hoa nổ), hoàn lại sau giám định là 05 (năm) hộp pháo hoa nổ. Do là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) bao màu xanh đã qua sử dụng là tang vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 01 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) hộp pháo hoa nổ, dạng hình hộp chữ nhật, có kích thước 17 cm x 17 cm x 10 cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3 cm và 01 (một) bao màu xanh đã qua sử dụng.

(theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ