vanban.org

Bản án 08/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của Chị Lê Thị Y.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Giao bị cáo Hà Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Chị Lê Thị Y.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-PT
Ngày 10 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Mai

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh

Bà Lê Thị Bích Ngọc

- Thư ký phiên toà: Ông Đường Thái Sơn -Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 168/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo Hà Văn T do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo: Hà Văn T, sinh ngày 12/9/2002; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông: Hà Văn H và bà Lê Thị P; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/8/2022 đến 30/9/2022. Hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T: Ông Vũ Văn D – Luật sư (có mặt).

Địa chỉ: Thành phố V, Vĩnh Phúc

- Bị hại có kháng cáo: Chị Lê Thị Y, sinh năm 1990 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:

Luật sư Công ty Luật.

Ngoài ra còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng không có kháng cáo, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn M và Trần Văn D là anh em họ với nhau. Trần Văn D có xưởng gỗ ngay sát nhà ở của gia đình Hà Văn M. Vào năm 2018, M thuê D làm sập gỗ, sau khi làm xong, D chuyển sập gỗ chưa sơn cho gia đình M sử dụng và nhận đủ tiền làm sập. Tuy nhiên, gia đình M cho rằng D phải có trách nhiệm sơn phủ sập gỗ và yêu cầu D thực hiện nhưng D không đồng ý. Buổi trưa ngày 31/3/2022, M sang nhà D yêu cầu D sơn sập gỗ, D không thực hiện nên M cãi, chửi nhau và thách thức đối với D và vợ của D là Chị Lê Thị Y. Sau đó, Hà Văn M gọi điện thoại cho em trai ruột là Hà Văn T về nhà khiêng hộ sập gỗ sang xưởng gỗ nhà D để yêu cầu D sơn sập. Lúc này, T đang uống rượu cùng với nhóm bạn gồm: Trần Duy H, Đặng Trần K và Nguyễn Xuân V; M bảo T nhờ bạn về khiêng sập giúp. T nhờ K, H và V cùng về nhà để khiêng hộ sập gỗ, cả ba đồng ý. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, T, H, K và V về đến nhà M, thấy M đang chửi nhau với vợ chồng anh D chị Y nên T đến trước cửa xưởng gỗ cùng M cãi nhau và thách thức với vợ chồng anh D, chị Y. Sau đó, anh D, chị Y đóng cửa lưới bằng kim loại trước xưởng gỗ và đứng ở trong xưởng tiếp tục cãi nhau với M và T. Trong khi cãi nhau, T nhặt một mẩu gạch cứng, loại gạch chỉ xây tường ở ven đường ném qua mép trên cửa lưới về phía chị Y nhưng không trúng. Sau đó, M bảo T, H, K và V đi vào nhà M khiêng sập gỗ mang sang để ở xưởng gỗ của D. Trong khi cùng nhau tháo và khiêng sập, T nói với M: “Em thấy nhà chúng nó đóng cửa”; M nói: “Chúng mày cứ khiêng sang để ở cửa nhà nó cho anh”. T nói: “Anh em mình cứ khiêng sang để ở đấy, thách nhà chúng nó dám ra, chúng nó ra anh em mình đánh chết mẹ chúng nó đi”. Sau đó, tất cả cùng nhau khiêng mặt sập gỗ ra dựng ở bên ngoài cửa lưới của xưởng gỗ nhà D. Thấy vậy, chị Y bực tức và nói với nhóm của K:“Chúng mày liên quan đến nhà chúng nó à mà chúng mày mó tay vào? Chúng mày thích chết à? Chúng mày đến nhà tao làm loạn à? hay chúng mày thích đánh nhau?”. T chửi lại: “Chúng mày có giỏi thì bước ra đây, trốn trong nhà làm gì, chúng mày ra đây anh em tao đánh chúng mày chết”. Đặng Trần K bực tức về việc bị chị Y chửi nên nhặt ở ven đường một mẩu gạch, loại gạch chỉ đặc kích thước dài 11cm, rộng 10cm, dày 5cm đi đến gần cửa lưới dùng tay phải ném nửa viên gạch qua mép trên của cửa lưới, trúng vào vùng bắp tay trái của chị Y. Sau đó, Y đi đến ru đổ mặt sập (đang dựng dựa vào cửa lưới) xuống nền đường bê tông phía ngoài, rồi mở cửa xưởng; nhóm của M tiếp tục khiêng mặt sập để vào bên trong xưởng và khiêng chân sập sang đặt tại xưởng gỗ. Thấy vậy, D cầm 01 tuýp sắt dạng hình trụ, rỗng ruột, dài 52cm, đường kính 2,5cm chạy ra dồn đuổi đánh K nhưng bị M chặn lại. K quay lại và nhặt 01 mẩu gạch ở ven đường ném về phía D nhưng không trúng; T cũng nhặt gạch ở ven đường ném về phía D 02 phát không trúng; ném 01 phát về phía chị Y nhưng chị Y tránh né được. Sau đó, D đi vào trong xưởng, chị Y đứng gần cửa xưởng để cãi, chửi nhau; T bực tức và nhặt 01 viên gạch, loại gạch chỉ đặc, đập xuống nền đường bê tông cho vỡ ra rồi cầm một mẩu gạch vỡ, kích thước dài 14cm; rộng 5cm; dày 4,8cm chạy đến cửa xưởng và ném về phía chị Y. Thấy T ném gạch về phía mình, chị Y quay mặt tránh né nên trúng vào vùng vai, cổ phía sau của chị Y khiến chị Y ngã nằm ra đất. Sau đó M, T, K và V về nhà M khiêng nốt thanh chân sập sang để tại xưởng gỗ rồi ra về. Chị Y bị thương được đưa đi sơ cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện Tam Dương từ ngày 31/3/2022 đến ngày 02/4/2022 ra viện.

Sau khi sự việc xảy ra, anh Trần Văn D có đơn trình báo Công an xã Đồng Tĩnh giải quyết theo thẩm quyền, Công an xã Đồng Tĩnh đã chuyển tố giác về tội phạm đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định của pháp luật đồng thời tiến hành khám nghiệm hiện T vụ án và thu giữ vật chứng có liên quan tại hiện T vụ án. Chị Lê Thị Y có đơn yêu cầu giám định thương tích, khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T và K.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 109/TgT ngày 20/4/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Vết biển đổi rối loạn sắc tố da từ mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái chạy xuống 1/3 giữa mặt trong cánh tay trái xếp: 01%. Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã mô tả trên do vật tày gây nên. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 01%.

Ngày 08/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương đã trưng cầu Viện pháp y Quân đội - Cục Quân y tiến hành giám định lại lần thứ nhất về thương tích của Chị Lê Thị Y. Tại Bản kết luận giám định lại pháp y số 46/GĐ-PY ngày 17/8/2022 của Viện pháp y Quân đội - Cục Quân y kết luận: Vùng cổ, vai trái không thấy dấu vết thương tích; vận động, cảm giác vai trái, cánh tay trái bình thường; điện não đồ tại thời điểm ghi bình thường. Hiện tại không có dấu vết thương tích nên không có căn cứ để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Lê Thị Y.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra tiến hành trích xuất dữ liệu camera đối với đầu thu camera của gia đình anh D, tiến hành giám định hình ảnh đối với dữ liệu thu được. Tại Bản kết luận giám định số 1168/KL-KTHS ngày 29/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Trích xuất được 38 ảnh theo yêu cầu giám định, chi tiết được thể hiện trong 01 bản ảnh giám định. Sao in được 09 tập tin video gửi giám định sang một đĩa DVD. Nội dung ảnh và video thu giữ được xác định nội dung Hà Văn T và Đặng Trần K có những hành vi, hành động dùng gạch là hung khí nguy hiểm ném nhiều lần về phía chị Y và gây thương tích cho chị Y như đã nêu ở trên.

Đối với Hà Văn M, Trần Duy H, Nguyễn Xuân V, Trần Văn D: Khi vụ án xảy ra, bản thân M, H, V không xúi giục, kích động đánh nhau hay có hành vi gây thương tích cho chị Y. Trần Văn D có hành vi cầm tuýp sắt đuổi đánh Đặng Trần K nhưng được can ngăn nên không đánh hay gây thương tích cho K. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với M, H, V và D.

Về vật chứng: Thu giữ tại hiện T 01 tuýp sắt sáng màu, dạng hình trụ, rỗng ruột, dài 52cm, đường kính 2,5cm; 05 mẩu gạch chỉ, gạch xi măng, đều có dạng đặc, hình thù, kích thước khác nhau; 01 bộ sập ngồi, chất liệu bằng gỗ xà cừ, màu nâu đỏ, đã bị tháo rời các bộ phận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Chị Lê Thị Y yêu cầu Đặng Trần K và Hà Văn T phải bồi thường cho chị tổng số tiền là 71.000.000đồng, mỗi người phải chịu một nửa số tiền trên gồm: Chi phí điều trị, khám chữa bệnh tại Trung tâm y tế huyện Tam Dương là 1.000.000đồng; chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 24.000.000đồng; số tiền tổn thất về thu nhập trong những ngày điều trị thương tích, phục hồi sức khỏe là 16.000.000đồng; số tiền tổn thất về tinh thần là 30.000.000đồng. Giai đoạn truy tố, Đặng Trần K đã tác động để mẹ bị cáo bồi thường cho bị hại 25.000.000đồng, Hà Văn T đã tác động để bố mẹ bị cáo bồi thường cho bị hại 35.000.000đồng; chị Y đã nhận đầy đủ số tiền trên và không yêu cầu K, T phải bồi thường thêm gì khác. Bố mẹ các bị cáo không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại số tiền trên.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: TuY bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hà Văn T 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hà Văn T cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với bị cáo khác trong vụ án và quyết định về xử lý vật chứng, án phí theo quy định.

Ngày 24 tháng 10 năm 2022, bị hại Lê Thị Y có đơn kháng cáo với nội dung: Tăng hình phạt đối với bị cáo T và không cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị hại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Hình phạt mà bản án sơ thẩm tuY đối với bị cáo Hà Văn T quá nhẹ, không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xử bị cáo hình phạt tù, không cho hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê Thị Y, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Chị Y phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị hại Lê Thị Y làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết.

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hà Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó có đủ căn cứ để xác định: Xuất phát từ việc mâu thuẫn, cãi chửi nhau giữa Hà Văn M với vợ chồng anh Trần Văn D, Chị Lê Thị Y. Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 31/3/2022, tại khu vực xưởng gỗ của gia đình anh Trần Văn D ở thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Đặng Trần K và Hà Văn T có hành vi dùng các mẩu gạch đặc là hung khí nguy hiểm ném gây thương tích cho Chị Lê Thị Y; cụ thể K dùng một mẩu gạch, loại gạch chỉ đặc, kích thước (11x10x05)cm, ném trúng vào bắp tay trái chị Y, T dùng một mẩu gạch, loại gạch chỉ đặc, kích thước (14x5x4,8)cm ném trúng vào vùng vai, cổ phía sau bên trái của chị Y. Hậu quả, chị Y phải đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện Tam Dương từ ngày 31/3/2022 đến ngày 02/4/2022. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Y là 01%..

Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hà Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự với tình tiết định tội là “Dùng...hung khí nguy hiểm...”

Xét kháng cáo của bị hại Chị Lê Thị Y cho rằng cho bị cáo hưởng án treo là chưa nghiêm vì trước khi xảy ra sự việc bị cáo nhiều lần cầm dao đến nhà bị hại đe dọa, dùng gạch đá ném vào nhà. Sau khi phạm tội còn có hành vi chửi bới với gia đình bị hại. Bị cáo là đối tượng ngổ ngáo, có thái độ ngông cuồng, coi thường pháp luật nên cần xác định bị cáo là người có nhân thân không tốt và cần xử lý nghiêm, không cho hưởng án treo.

Tuy nhiên xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo thấy rằng trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc Trường hợp ít nghiêm trọng, đã tác động đến gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra xét thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, thương tích gây ra cho bị hại không lớn (tỷ lệ 1%), tại phiên tòa bị cáo đã có lời xin lỗi bị hại và mong muốn bỏ qua sai lầm của mình, nên theo quy định của pháp luật đủ điều kiện cho bị cáo hưởng án treo. Trường hợp bị cáo có các hành vi vi phạm pháp luật khác trước và sau khi phạm tội sẽ được xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng là có căn cứ do vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo của chị Y không được chấp nhận nên chị Y phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của Chị Lê Thị Y.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 62/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hà Văn T 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hà Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Chị Lê Thị Y phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ