vanban.org

Bản án 08/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu về trách nhiệm dân sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D, phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Trần Văn D, 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hình phạt tù tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. 7. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn D - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu về trách nhiệm dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-PT
Ngày 21 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Trần Quỳnh Phương

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Anh Tuấn

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 110/2022/TLPT-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Trần Văn D, do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Họ và tên: Trần Văn D, sinh ngày 16/7/1950, tại huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp Bình L, xã Vĩnh L, huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: V Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn G (chết) và bà Phạm Thị P, sinh năm 1922; vợ là Huỳnh Thị T, sinh năm 1952 và có 03 người con; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

- Bị hại có kháng cáo:

Họ và tên: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1959. Trú tại: Ấp Thạnh Đ, xã Phong Đ, huyện Vĩnh T, tỉnh Kiên Giang, (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị H không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 28/01/2022, bị cáo Trần Văn D đang buộc bọc nilon vào dây căng giữa đường dẫn xuống bến đò mới tại ấp Bình L, xã Vĩnh L, huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu để cho người đi đò nhìn thấy không đi qua phần đất đang tranh chấp với bị hại Nguyễn Văn V. Lúc này, anh Lê Văn X đang điều khiển đò đưa khách từ ấp Thạnh Đ, xã Phong Đ, huyện Vĩnh T, tỉnh Kiên Giang qua bến đò mới, thì bị hại và vợ Nguyễn Thị H chạy võ máy đến ngăn cản không cho anh X ghé vào bến đò, nên anh X chạy đò đi chỗ khác. Thấy vậy, bị cáo mới nói: “Tại sao đất có cậm ranh, căng dây không cho qua phần đất đang tranh chấp rồi sao không cho đưa” thì bà H nói: “Đất đang tranh chấp không cho ai đưa hết” nên giữa bị cáo và bà H xảy ra cự cãi với nhau, bà H cầm cây dầm từ dưới võ đi lên bờ về phía bị cáo, bị cáo cũng đi lại và giật được cây dầm của bà H rồi bẻ bỏ. Sau đó, bà H và bị cáo đánh nhau bằng tay, bà H kêu bị hại lên tiếp, bị hại lấy cây búa từ dưới võ chạy lên, thấy bị hại chạy lên nên bị cáo dùng tay đẩy bà H sang một bên và bị cáo chạy lại chỗ làm cá nhà của con dâu của bị cáo tên là Cừu Thị Ái N cách đó khoảng 03m lấy một cây dao yếm dài 37 cm rồi D quay lại chỗ bà H và bị hại đang đứng. Khi bị cáo chạy đến thì bà H ôm lại, bị hại dùng bề đóng đinh của cây búa đánh vào lưng của bị cáo một cái, bị cáo cầm cây dao tay phải chém vào chân trái của bà H một cái bằng bề lưng và bị cáo cầm dao chém, quơ qua lại nhiều cái thì phần sống dao trúng vào người, bàn tay phải của bị hại gây thương tích. Sau đó, bị cáo dùng tay trái chụp được tay phải của bị hại đang cầm búa đè xuống, lúc này Cừu Thị Ái N nhìn thấy chạy lại can ngăn, N một tay cầm tay phải của bị cáo đang cầm dao, bị hại dùng tay trái đánh vào đầu của bị cáo, bị cáo dùng răng cắn vào bắp tay, vai phải của bị hại, lúc này bà H ôm người bị cáo, sau đó Nguyễn Thị T (con dâu của bị cáo) cũng chạy lại tiếp can ngăn thì mọi người mới nghỉ đánh. Sau khi sự việc xảy ra bị hại và H đến Trung tâm y tế huyện Vĩnh T, tỉnh Kiên Giang điều trị thương tích và trình báo Công an xã Vĩnh L, huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu. Ngày 16/3/2022, bị hại có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 31/TgT ngày 23/02/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận thương tích của Nguyễn Văn V xác định: 01 vết sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da ở trên vai phải. Tỷ lệ 0,5%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ phải qua trái; 01 vết sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da ở trên ngoài vai phải. Tỷ lệ 0,5%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ phải qua trái; 01 vết sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da ở trước ngực trái. Tỷ lệ 0,5%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trước ra sau; Gãy kín xương bàn ngón V bàn tay phải, không hạn chế chức năng bàn tay, ngón tay. Tỷ lệ 08%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ phải qua trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 09%.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 2930/C09B ngày 30/5/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định như sau: Vết sây sát da vùng ngực trái hiện để lại 01 vết biến đổi sắc tố da; Sưng nề, gãy kín đốt bàn ngón V tay (P) hiện đã lành, không để lại dấu vết thương tích bên ngoài. Kết luận: Vết sây sát da vùng ngực trái hiện đã lành, để lại vết biến đổi sắc tố da, không đủ cơ sở xác định vật gây tổn thương. Vết thương gãy kín ngón V bàn tay phải phù hợp do vật tày có cạnh tác động gây ra. Mẫu vật gửi giám định (phần sống dao) gây ra được.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn D, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, o, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

3. Xử phạt bị cáo Trần Văn D, 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

4. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Trần Văn D, bồi thường cho ông Nguyễn Văn V 7.535.000đ, bị cáo đã nộp khắc phục số tiền 1.500.000đ được đối trừ trong giai đoạn thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/12/2022, bị cáo Trần Văn D kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 06/12/2022, bị hại Nguyễn Văn V kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt, không cho bị cáo D hưởng án treo; yêu cầu bồi thường thêm đối với khoản chi phí đi lại trong 02 lần đi giám định và tiền chụp hình lại vết thương là 3.500.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại còn trong thời hạn luật định nên cấp phúc thẩm chấp nhận và đưa ra xét xử là hợp lệ.

Về nội dung: Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn D và bị hại Nguyễn Văn V, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại đúng về thể thức và thời hạn nên được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Theo hồ sơ vụ án thể hiện, do có mâu thuẫn tranh chấp ranh đất từ trước nên khoảng 09 giờ ngày 28/01/2022, bị cáo Trần Văn D đang buộc bọc nilon vào dây căng giữa đường dẫn xuống bến đò mới tại ấp Bình L, xã Vĩnh L, huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu để cho người đi đò nhìn thấy không đi qua phần đất đang tranh chấp với bị hại Nguyễn Văn V. Lúc này, anh Lê Văn X đang điều khiển đò đưa khách từ ấp Thạnh Đ, xã Phong Đ, huyện Vĩnh T, tỉnh Kiên Giang qua bến đò mới, thì bị hại và vợ Nguyễn Thị H chạy võ máy đến ngăn cản không cho anh X ghé vào bến đò, nên anh X chạy đò đi chỗ khác. Thấy vậy, bị cáo mới nói: “Tại sao đất có cậm ranh, căng dây không cho qua phần đất đang tranh chấp rồi sao không cho đưa” thì bà H nói: “Đất đang tranh chấp không cho ai đưa hết” nên giữa bị cáo và bà H xảy ra cự cãi với nhau, bà H cầm cây dầm từ dưới võ đi lên bờ về phía bị cáo, bị cáo cũng đi lại và giật được cây dầm của bà H rồi bẻ bỏ. Sau đó, bà H và bị cáo đánh nhau bằng tay, bà H kêu bị hại lên tiếp, bị hại lấy cây búa từ dưới võ chạy lên, thấy bị hại chạy lên nên bị cáo dùng tay đẩy bà H sang một bên và bị cáo chạy lại chỗ làm cá nhà của con dâu của bị cáo tên là Cừu Thị Ái N cách đó khoảng 03m lấy một cây dao yếm dài 37 cm rồi bị cáo D quay lại chỗ bà H và bị hại đang đứng. Khi bị cáo chạy đến thì bà H ôm lại, bị hại dùng bề đóng đinh của cây búa đánh vào lưng của bị cáo một cái, bị cáo cầm cây dao tay phải chém vào chân trái của bà H một cái bằng bề lưng và bị cáo cầm dao chém, quơ qua lại nhiều cái thì phần sống dao trúng vào người, bàn tay phải của bị hại gây thương tích. Sau đó, bị cáo dùng tay trái chụp được tay phải của bị hại đang cầm búa đè xuống, lúc này Cừu Thị Ái N nhìn thấy chạy lại can ngăn, N một tay cầm tay phải của bị cáo đang cầm dao, bị hại dùng tay trái đánh vào đầu của bị cáo, bị cáo dùng răng cắn vào bắp tay, vai phải của bị hại, lúc này bà H ôm người bị cáo, sau đó Nguyễn Thị T (con dâu của bị cáo) cũng chạy lại tiếp can ngăn thì mọi người mới nghỉ đánh. Ngày 16/3/2022, bị hại có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Qua giám định bị hại bị thương tích với tỷ lệ là 09% là có diễn ra trên thực tế.

Hành vi dùng dao yếm bằng kim loại được xác định là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại qua giám định là 09% và bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Do đó, án sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

“Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người.

…….”

Thương tích bị cáo gây ra cho bị hại là 09%, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự, do đó cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Mặt khác, hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương cần có mức án nghiêm khắc đủ để cải tạo, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho bị cáo và cũng để răn đe, phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

[2.3] Xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn V, Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Đối với kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt, không cho bị cáo hưởng án treo: Như đã phân tích ở mục 2.2, hình phạt 03 tháng tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại về tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại về việc không cho bị cáo hưởng án treo.

- Đối với kháng cáo yêu cầu bồi thường thêm đối với khoản chi phí đi lại trong 02 lần đi giám định và tiền chụp hình lại vết thương là 3.500.000 đồng:

Thực tế ngày 23/2/2022, bị hại có đến Trung tâm giám định pháp y tỉnh Bạc Liêu để giám định pháp y về thương tích. Và ngày 30/5/2022, bị hại có đến Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh để giám định pháp y về thương tích. Bị hại tự chi trả tiền xe di chuyển từ nhà đến cơ quan giám định nên được chấp nhận yêu cầu bồi thường phần này, cụ thể: tiền xe đi về từ nhà bị hại (ấp Thạnh Đ, xã Phong Đ, huyện Vĩnh T, tỉnh Kiên Giang) đến cơ quan giám định tỉnh Bạc Liêu là 400.000đ; tiền xe đi về từ nhà bị hại (ấp Thạnh Đ, xã Phong Đ, huyện Vĩnh T, tỉnh Kiên Giang) đến cơ quan giám định thành phố Hồ Chí Minh là 600.000đ. Tổng cộng tiền xe là 1.000.000đ. Do ông V bị thương nên cần có 01 người đi theo chăm sóc nên tiền xe người đi theo chăm sóc là 1.000.000đ. Tổng cộng tiền xe là 2.000.000đ.

Tiền chụp hình lại vết thương bị hại yêu cầu là 200.000đ, do bị hại không cung cấp được toa vé nên không có cơ sở chấp nhận.

Tổng cộng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 9.535.000đ bao gồm số tiền 7.535.000đ bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại như án sơ thẩm đã tuyên và tiền chi phí đi lại trong 02 lần đi giám định là 2.000.000đ.

[3] Về án phí: Bị cáo Trần Văn D là người cao tuổi và có yêu cầu được miễn án phí nên được Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Trên cơ sở phân tích nêu trên chấp nhận một phần lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

[5] Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn D xin được hưởng án treo; không chấp nhận kháng cáo của bị hại về tăng hình phạt đối với bị cáo; Giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn V.

3. Sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu về trách nhiệm dân sự.

4. Tuyên bố bị cáo Trần Văn D, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

5. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, o, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

6. Xử phạt bị cáo Trần Văn D, 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hình phạt tù tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. 7. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Trần Văn D, bồi thường cho ông Nguyễn Văn V số tiền 9.535.000đ; bị cáo đã nộp khắc phục số tiền 1.500.000đ được đối trừ trong giai đoạn thi hành án.

(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng D đang quản lý số tiền trên tại biên bản ngày 20/10/2022).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

8. Về án phí: Căn cứ các Điều 135 ; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự ; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn D được miễn toàn bộ

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn D được miễn toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

9. Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2022/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hồng D, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ