- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Khà Y Dợ - Giàng A Thống"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Khà Y D và anh Giàng A Th.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––––––– Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày 28/9/2023 V/v: Tranh chấp nuôi con chung của Nam, nữ chung sống không đăng ký kết hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hƣng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Bá Khiên
2. Bà Đinh Thị Thủy
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hà Thế Anh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Mai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên toà: Bà Lê Thúy Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2023/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023, về việc: Tranh chấp nuôi con của Nam, nữ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Chị Khà Y D, sinh năm 1994 ; Nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hoà Bình. Có mặt.
Bị đơn: Anh Giàng A Th, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hoà Bình. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đội 02, phân trại số 02, Trại giam Thanh Cẩm; Địa chỉ: Xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt có lý do.
NHẬN THẤY:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2023 nộp tại tòa ngày 27/7/2023, bản tự khai ngày 28/7/2023 và tại phiên toà nguyên đơn là chị Khà Y D trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: chị và anh Giàng A Th qua tìm hiểu đã tự nguyện kết hôn với nhau theo phong tục của địa phương năm 2012 nhưng không đến UBND xã làm thủ tục đăng ký kết hôn. Sau khi tổ chức đám cưới chị về chung sống với anh Giàng A Th tại xóm Pà Khôm, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Đến năm 2018 anh Giàng A Th phải đi chấp hành án tại trại giam Thanh Cẩm vì liên quan đến phạm tội về ma túy và kể từ đó chị và anh Giàng A Th sống ly thân nhau. Nay nhận thấy tình cảm không còn vì vậy chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh Giàng A Th là vợ chồng.
Về con chung: Chị và anh Giàng A Th có 03 con chung tên là Giàng Y C sinh ngày 21/02/2011 , Giàng A D ngày 07/7/2013 và Giàng A Sơn sinh ngày 22/9/2016. Vì anh Giàng A Th đang phải chấp hành án nên chị đề nghị để chị được trực tiếp trông non, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 03 con, chị chưa yêu cầu anh Giàng A Th cấp dưỡng nuôi con. Anh Giàng A Th có quyền thăm non con.
Về tài sản chung, nợ chung: Hiện nay chị và anh Giàng A Th không có nên không yêu cầu tòa giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 14/8/2023 bị đơn anh Giàng A Th trình bày:
Anh công nhận hiện nay anh và chị Khà Y D chưa chính thức đăng ký kết hôn, quá trình chung sống anh chị chưa có tài sản chung, nợ chung. Về con chung hiện nay anh chị có 03 con chung.
Trước đơn khởi kiện của chị Khà Y D anh đồng ý đề nghị tòa không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Khà Y D và anh Giàng A Th. Về con chung anh đề nghị tòa giải quyết để các con ở với ông bà (là bố mẹ đẻ của anh Giàng A Th) vì các con anh vẫn được ông bà chăm sóc từ bé.
Do điều kiện anh Giàng A Th đang chấp hành án không thể có mặt để tham gia phiên tòa. Ngày 14/8/2023 anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh , căn cứ vào đơn trình bày đã gửi đến tòa án theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc thụ lý, lấy lời khai của đương sự và các trình tự, thủ tục khác đã thực hiện đúng đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không yêu cầu về khắc phục vi phạm thủ tục tố tụng.
- Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Những người tham gia tố tụng nguyên đơn có mặt và bị đơn vắng mặt có lý do và đã có ý kiến, lời khai, yêu cầu của mình. Ngày 14/8/2023 có đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án.
- Về nội dung vụ án: Trên cơ sở nội dung vụ án đã được thể hiện qua phần thủ tục hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy việc mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa chị Khà Y D và anh Giàng A Th đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14 ;Điều 15 ; Điều 53; Điều 81 ; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Khà Y D và anh Giàng A Th. Về con chung đề nghị giao cho chị Khà Y D được trực tiếp trông non, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Giàng A Th chưa phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm con, về tài sản chung, nợ chung hai bên đương sự đều công nhận không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Khà Y D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mai Châu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Giàng A Th, đề nghị giải quyết để chị được nuôi con. Theo quy định tại khoản 7 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mai Châu thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ kiện Giàng A Th đã có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu tiến hành xét xử vắng mặt anh. Yêu cầu của anh Giàng A Th là phù hợp với các quy định tại các Điều 207, khoản 2 Điều 208, và khoản 1 Điều 228 BLTTDS.
Về nội dung vụ án: chị Khà Y D và anh Giàng A Th sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2012 nhưng cho đến nay vẫn không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao -Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa chị Khà Y D và anh Giàng A Th không được pháp luật công nhận.Trong quá trình chung sống, năm 2018 anh Giàng A Th phải đi chấp hành án tại trại giam Thanh Cẩm vì liên quan đến phạm tội về ma túy, kể từ đó chị và anh Giàng A Th sống ly thân nhau cho đến nay. Căn cứ vào Điều 9; Điều 14; Điều 15 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng chấp nhận yêu cầu của chị Khà Y D đề nghị. Tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Khà Y D và anh Giàng A Th.
Về con chung: Chị Khà Y D và anh Giàng A Th có ba con chung tên là Giàng A Cá sinh ngày 21/02/2011, Giàng A Dsinh ngày 07/7/2013 và Giàng A Sơn sinh ngày 22/9/2016. Chị Khà Y D đề nghị được trực tiếp trông non, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, chị chưa yêu cầu anh Giàng A Th cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện nuôi dưỡng của chị Khà Y D và xem xét nguyện vọng của con chưa thành niên, mặt khác hiện nay anh Giàng A Th đang phải chấp hành án. Căn cứ vào Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cho chị Khà Y D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Giàng A Th chưa phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm con. Đối với nguyện vọng của anh Giàng A Th đề nghị giải quyết để ông bà (là bố mẹ anh Thống) nuôi dưỡng các cháu là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Hiện không có, cả hai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.
Về án phí: Chị Khà Y D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 207, khoản 2 Điều 208; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1.Tuyên bố: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Khà Y D và anh Giàng A Th.
2. Về con chung: Giao cho chị Khà Y D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Giàng A C sinh ngày 21/02/2011, Giàng A D sinh ngày 07/7/2013 và Giàng A S sinh ngày 22/9/2016. Anh Giàng A Th chưa phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm nom con.
3. Về án phí: Chị Khà Y D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự nhưng được trừ vào số tiền dự phí án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0000541 ngày 27/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo cùng thời hạn kể từ ngày nhận được bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình để xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - VKSND tỉnh HB; - VKSND huyện MC; - Chi cục THADS huyện MC; - UBND xã Pà Cò; - UBND xã Hang Kia; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ( Đã ký) Nguyễn Hồng Hƣng |