- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị D - Đặng Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23-3-2023 V/v tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Tám
Ông Huỳnh Ngọc Trứ
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 309/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 về việc “Xin ly hôn, nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1988; (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Chổ ở hiện nay: Đường T, Phường E, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1980; (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 29/9/2022, biên bản hòa giải, biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh Đặng Văn Đ tổ chức lễ cưới vào năm 2006, cho đến ngày 15/8/2012 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 110/2012 ngày 15/8/2012. Đến cuối năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng tính tình không hợp nhau thường bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc.
Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đến nay vẫn không hạnh phúc, mà trái lại mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và đã sống ly thân từ năm 2012. Chị D yêu cầu Tòa án cho chị ly hôn với anh Đặng Văn Đ.
- Về con chung: Có 02 con chung, con thứ nhất tên Đặng Thị Diễm M sinh ngày 06/5/2007, con thứ hai tên Đặng Quốc Đ1 sinh ngày 02/01/2009. Chị D yêu cầu Tòa án giao cho chị tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Diễm M, giao cho anh Đặng Văn Đ chăm sóc nuôi dương cháu Đặng Quốc Đ1, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn anh Đặng Văn Đ từ khi thụ lý vụ án và quá trình hòa giải, kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và tham dự phiên tòa sơ thẩm dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Đ vắng mặt.
- Tại phiên tòa sơ thẩm: Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Tiền Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Kể từ ngày thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Nguyên đơn, yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu Tòa án xem xét giao nuôi dưỡng con chung mỗi người 01 cháu. Trong đó, chị D yêu cầu Tòa án giao cho chị tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Diễm M, giao cho anh Đặng Văn Đ chăm sóc nuôi dưỡng cháu Đặng Quốc Đ1, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con..
- Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn cho rằng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh Đ thể hiện tình trạng trầm trọng do đã ly thân và không còn sống chung, không hòa giải đoàn tụ được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể hiện phương án hay điều kiện gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14, xét xử cho chị Nguyễn Thị D và anh Đặng Văn Đ được ly hôn và giao cho Chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Diễm M, giao cho anh Đặng Văn Đ chăm sóc nuôi dưỡng cháu Đặng Quốc Đ1, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp: Giữa chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung với anh Đặng Văn Đ, căn cứ Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung”.
Về thẩm quyền: Xét thấy anh Đặng Văn Đ có địa chỉ tại xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập lần thứ 2 hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng các mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Đặng Văn Đ tổ chức lễ cưới vào năm 2006, cho đến ngày 15/8/2012 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 110/2012 ngày 15/8/2012. Đến cuối năm 2012, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng tính tình không hợp nhau thường bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc.
Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đến nay vẫn không hạnh phúc, mà trái lại mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và đã sống ly thân từ năm 2012. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án sơ thẩm anh Đ không có ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ, và vắng mặt không tham dự hòa giải, công khai tài liệu chứng cứ, tham dự phiên tòa sơ thẩm.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh Đ có dấu hiệu trầm trọng, không còn chung sống chung, không cùng chăm lo con cái, gia đình, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không có phương án hay điều kiện gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Vợ chồng không còn yêu thương nhau; những mâu thuẫn giữa vợ, chồng không thể hòa giải được; quan hệ vợ chồng rạn nứt đến nỗi không thể hàn gắn được; việc vợ chồng tiếp tục chung sống làm ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của những thành viên trong gia đình, đặc biệt là tới việc chăm sóc, giáo dục con cái; sự tồn tại quan hệ hôn nhân đó không thể xây dựng được một gia đình ấm no, bình Đ, tiến bộ, hạnh phúc. Xét thấy cần thiết cho chị D và anh Đ ly hôn với nhau.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị D và anh Đ có 02 con chung, con thứ nhất tên Đặng Thị Diễm M sinh ngày 06/5/2007, con thứ hai tên Đặng Quốc Đ1 sinh ngày 02/01/2009. Theo tự khai của cháu M sau khi cha mẹ ly hôn cháu M có nguyện vọng sống với mẹ, cháu Đ1 có nguyện vọng sống với cha. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần ghi nhận yêu cầu của chị D và nguyện vọng của hai cháu, giao cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Diễm M, giao cho anh Đặng Văn Đ chăm sóc nuôi dưỡng cháu Đặng Quốc Đ1, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị D khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị D khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, Điều 147, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Đặng Văn Đ.
- Về quan hệ con chung: Giao cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Diễm M sinh ngày 06/5/2007, giao cho anh Đặng Văn Đ chăm sóc nuôi dưỡng cháu Đặng Quốc Đ1 sinh ngày 02/01/2009, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Ghi nhận việc chị D không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Anh Đ, chị D được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
- Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002747 ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Xem như chị D đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị D và anh Đặng Văn Đ được quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã C; - CCTHADS thị xã C; - Phòng Tư pháp thị xã C; - UBND xã L; - Đương sự - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. HNST-2023-H | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Hiệp |