- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thanh H và Nguyễn Xuân H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thanh H và anh Nguyễn Xuân H.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày 24/02/2023 V/v ”Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hương.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân.
2. Bà Vũ Thị Hòa.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Linh -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 230/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 và giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thanh H, sinh năm 1990.
Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Công nhân
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1987
Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Tự do.
Cùng địa chỉ: Thôn Tiến Cường, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Các đương sự có mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 04 tháng 11 năm 2022, bản tự khai chị Vũ Thanh H trình bày nô ̣i dung vu ̣ án như sau:
Chị Vũ Thanh H và anh Nguyễn Xuân H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào ngày 18 tháng 11 năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hạ Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn cuô ̣c sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau , mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không cải thiện được. tuy sống chung cùng nhà nhưng không ai quan tâm trách nhiệm đến ai. Đến nay chị Vũ Thanh H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống chị Vũ Thanh H xác định chị và anh Nguyễn Xuân H có 02 con chung, cháu Nguyễn Thanh Trà, sinh ngày 16/02/2016 và cháu Nguyễn Tường Vy, sinh ngày 09/12/2017. Chị Vũ Thanh H đề nghị Tòa án giải quyết giao cả hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu anh Huy có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000đ/cháu/tháng. Hai cháu là 2.000.000 đồng.
Về quan hê ̣ tài sản chung , công nợ: Chị Vũ Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Xuân H trình bày tại bản tự khai ngày 21/11/2022 anh nhất trí ly hôn với chị Vũ Thanh H.
Về con chung anh Nguyễn Xuân H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dương cháu Nguyễn Thanh Trà, sinh ngày 16/02/2016 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị Hoa cấp dưỡng nuôi con. Sau đó Tòa án đã yêu cầu anh Huy giao nộp bổ sung chứng cứ về mức thu nhập hàng tháng và thông báo anh Huy đến Toà án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Huy không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải và cũng không có ý kiến gì. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật các bên tranh chấp là ly hôn,
tranh chấp về nuôi con. Bị đơn cư trú tại Thôn Tiến Cường, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo quy định tại các Điều 28 và 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thanh H và anh Nguyễn Xuân H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào ngày 18 tháng 11 năm 2014 tcó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hạ Giáp, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cuô ̣c sống chung vợ chồng ha ̣nh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình kh ông hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không cải thiện, vợ chồng hiện nay tuy sống chung cùng nhà nhưng không còn quan tâm và cũng không quan hệ về tình cảm và kinh tế. Chị Vũ Thanh H trình bày cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không có tinh cảm,
̀ vì con chị đã cố gắng rất nhiều nhưng anh Huy vẫn không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không có tiếng nói chung. Như vậy, có căn cứ xác định vợ chồng mâu thuẫn kéo dài, không hạnh phúc nên anh Huy và chị Hoa cùng nhất trí thuận tình ly hôn.
Về quan hệ con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Chị Vũ Thanh H xác định chị và và anh Nguyễn Xuân H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thanh Trà, sinh ngày 16/02/2016 và cháu Nguyễn Tường Vy, sinh ngày 09/12/2017. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu anh Huy giao nộp bổ sung chứng cứ về mức thu nhập hàng tháng để có căn cứ giao nuôi con nhưng anh Huy không cung cấp và cũng không có ý kiến gì. Vì vậy không có căn cứ để giao con cho anh Huy nuôi dưỡng.
Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh về điều kiện xin được nuôi con của chị Hoa thấy rằng: Chị Vũ Thanh H có nhà cửa, nghề nghiê ̣p và thu nhâ ̣p hàng tháng ổn đi ̣nh, có khả năng điều kiện, đảm bảo cuộc sống của bản thân và nuôi con chung, hiện nay anh Huy công việc và thu nhập không ổn định, việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đều do một mình chị Hoa trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và cháu Trà cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vâ ̣y, có căn cứ chấp nhận giao cả hai con chung cho chị Vũ Thanh H nuôi dưỡng, anh Huy có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000đ/tháng/cháu. Hai cháu là 2.000.000đ/tháng.
Về quan hệ tài sản chung: Chị Vũ Thanh H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Vũ Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thanh H và anh Nguyễn Xuân H.
Về quan hệ con chung: Xử giao cháu Nguyễn Thanh Trà, sinh ngày 16/02/2016 và cháu Nguyễn Tường Vy, sinh ngày 09/12/2017 cho Vũ Thanh H quyền trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Xuân H phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) /tháng/2 cháu cho đến khi đến khi cháu Nguyễn Thanh Trà và cháu Nguyễn Tường Vy đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t , chị Vũ Thanh H có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng, hàng tháng anh Nguyễn Xuân H phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở quyền này. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về án phí: Buộc chị Vũ Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001884 ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai. Chị Hoa đã nộp đủ tiền án phí. Anh Nguyễn Xuân H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
̀
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, TP; - Chi cục THADS TP; - Đương sự; - Sở tư pháp; - UBND xã Hạ Giáp Huyện Phù Ninh, Phú Thọ, - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Thanh Hƣơng |