- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Kim N được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-01-2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hải Thanh
Bà Hoàng Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tạị trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 243/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 285/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim N, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm C, thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1983. Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm E, xã H (nay là xóm B, xã H), huyện H, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, chị Nguyễn Kim N trình bày:
Chị Nguyễn Kim N và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội vào ngày 25/6/2015; sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung với nhau đến đầu năm 2017, anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan không về Việt Nam và không liên lạc với chị N. Do sống xa nhau đã lâu, không liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 15/9/2015, hiện nay đang ở với chị N. Nếu vợ chồng ly hôn, chị N đề nghị Tòa án giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía anh Nguyễn Văn C: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu anh Nguyễn Văn C có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án và gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Nguyễn Văn C thông qua ông Nguyễn Xuân Y và bà Nguyễn Thị Q (bố, mẹ đẻ anh C) và thực hiện niêm yết theo quy định của pháp luật, nhưng hiện tại anh C vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:
- Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Anh Nguyễn Văn C hiện đang sinh sống, làm việc tại Đài Loan nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự
- Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, theo ông Nguyễn Xuân Y và bà Nguyễn Thị Q (bố, mẹ đẻ anh C) cung cấp thông tin hiện nay anh C đang sinh sống tại Đài Loan, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh C thỉnh thoảng gọi điện thoại về cho ông Y, bà Q; anh C đã biết được việc chị N xin ly hôn và không có ý kiến gì. Việc anh C vắng mặt được xác định cố tình giấu địa chỉ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và xử cho chị N được ly hôn với anh C;
- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 15/9/2015, hiện nay đang ở với chị N. Hiện nay anh C vắng mặt và không có ý kiến gì. Đề nghị giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Chị N trình bày anh C đang ở Đài Loan nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh tại người thân của anh C là ông Nguyễn Xuân Y và bà Nguyễn Thị Q (bố, mẹ đẻ anh C) thì được cung cấp anh C hiện nay đang ở Đài Loan thỉnh thoảng gọi điện thoại về cho ông Y, bà Q. Ngày 15/7/2022, Cục Q1 có Công văn số 14769/QLXNC-P5 cung cấp thông tin anh Nguyễn Văn C xuất cảnh ngày 22/02/2017 qua Cửa khẩu N2 hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do anh Nguyễn Văn C trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Nghệ An, hiện nay đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Xuân Y và bà Nguyễn Thị Q (bố, mẹ đẻ anh C) cung cấp hiện nay anh C đang ở Đài Loan nhưng không biết địa chỉ cụ thể; anh C vẫn gọi điện thoại về cho ông Y, bà Q và đã biết được chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhưng anh C không có ý kiến gì. Như vậy, anh C đã biết được chị N yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Chị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Xét thấy chị N, anh Chung kết h với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Do vợ chồng sống xa nhau, anh C sống ở nước ngoài, chị N sống ở Việt Nam, không liên lạc với nhau, cắt đứt mọi quan hệ, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho chị Nguyễn Kim N được ly hôn anh Nguyễn Văn C là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 15/9/2015, đang ở với chị N. Hiện nay, anh C đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị N đang ở Việt Nam có nguyện vọng được nuôi con chung và cháu N1 cũng mong muốn sống cùng với chị N. Vì vậy, giao con chung Nguyễn Bảo N1 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N chưa yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét.
Anh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Kim N không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh Nguyễn Văn C vắng mặt chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Về án phí: Chị Nguyễn Kim N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Kim N được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
2. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
Giao cháu Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 15/9/2015 cho chị Nguyễn Kim N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Chị Nguyễn Kim N chưa yêu cầu anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con. Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Kim N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012191 ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Kim N vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Văn C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THSDS tỉnh Nghệ An; - UBND xã A, h B, TP H; Thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Ngọc Anh |