vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tạ Thị Thanh N và anh Nguyễn Quốc H.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/05/1999 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi đảm bảo khả năng lao động) và Nguyễn Quốc P, sinh ngày 01/01/2010. Sau khi ly hôn, Chị N được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quốc P, tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tạ Thị Thanh N-Nguyễn Quốc H"
  • Tòa quyết gì? Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tạ Thị Thanh N và anh Nguyễn Quốc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 08 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/01/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN- TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lý Thị Tường Nga

Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Bình và bà Nguyễn Thị Cúc

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Ngọc Huyền - Cán bộ Toà án nhân dân quận Long Biên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Ông Bùi Bách Thành - Kiểm sát viên

Ngày 12/01/2023, tại Trụ sở TAND quận Long Biên, phường Giang Biên, Quận Long Biên, TP Hà Nội, Toà án nhân dân quận Long Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 315/2022/TLST - HNGĐ ngày 12/10/2022 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 23/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2022/QĐ- HPT ngày 9/01/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Thanh N, sinh năm 1974 HKTT:P****,A* V, phường L, quận B, TP H Trú tại: Số 23 ngõ ** Đ, phường L, quận L, TP H

Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1974 HKTT: P****,A* V, phường L, quận B, TP H. Hiện trú tại: Tổ 3 phường V, quận L, TP H. (Chị N, anh H có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án nguyên đơn là Chị Tạ Thị Thanh N trình bày:

- Về mặt tình cảm: Tôi và anh Nguyễn Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G, huyện G, TP H ngày 07/11/1998. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do không cùng suy nghĩ, hiểu biết. Mâu thuẫn đã kéo dài và đến nay tôi xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hòa giải hàn gắn được. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 05/2022 đến nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết và xin được ly hôn.

Về con chung: chúng tôi có 02 con chung là Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/05/1999 và Nguyễn Quốc P, sinh ngày 01/01/2010. Khi ly hôn, tôi có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quốc P.

Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Bị đơn là anh Nguyễn Quốc H trình bày: Anh chị đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay nguyên nhân do trong cuộc sống có nhiều bất đồng quan điểm, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thuận tình ly hôn. Hiện nay anh và Chị N mỗi người sống riêng một nơi, anh H đang thuê đất để ở và làm nghề sửa xe tại địa chỉ khu ao đấu thầu thuộc phường Việt Hưng. Về con chung: Anh H xác định có 02 con chung là Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/05/1999 (hiện đang ở với ông bà nội) và Nguyễn Quốc P, sinh ngày 01/01/2010 như Chị N trình bày là đúng, hiện cháu P đang ở với Chị N được khoảng hơn 01 năm nay. Anh H có nguyện vọng nuôi cả hai con chung vì anh cho rằng cháu P ở với Chị N sẽ không tốt. Thu nhập trung bình của anh làm nghề sữa chữa xe máy khoảng 10 triệu đồng/ tháng.

Về tài sản chung: Anh H đã được Tòa án giải thích quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc yêu cầu giải quyết về tài sản chung vợ chồng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Anh khẳng định anh không yêu cầu giải quyết chia tài sản trong vụ án này vì anh đang yêu cầu giải quyết theo thủ tục hành chính đối với việc cấp GNCQSDĐ đối với tài sản chung giữa anh và Chị N tại UBND quận Ba Đình.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà pháp biểu: Toà án thụ lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 56; 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 28; Điều 220; Điều 266; Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

+ Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Tạ Thị Thanh N với anh Nguyễn Quốc H.

+ Về con chung: Anh chị có 02 con chung. 02 con chung là Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/05/1999 và Nguyễn Quốc P, sinh ngày 01/01/2010. Giao cháu P cho Chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết.

+ Án phí: Chị Tạ Thị Thanh N phải nộp 300.000đ án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Tạ Thị Thanh N có HKTT: P****,A* V, phường L, quận B, TP H. Hiện trú tại: Số 23 ngõ ** Đ, phường L, quận L, TP H xin ly hôn anh Nguyễn Quốc H hiện đang cư trú tại: Tổ 3 phường V, quận L, TP H. Toà án nhân dân quận Long Biên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị Thanh N và anh Nguyễn Quốc H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 1998 tại UBND thị trấn G, quận L, TP H. Quá trình chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai, anh H hiện nay sống riêng tại tổ 3 phường V. Chị N xác định không còn tình cảm, xin được ly hôn với anh H. Tại phiên tòa, anh H có lời khai và trình bày đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn đã kéo dài nhiều năm, không hàn gắn được, nên ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Tạ Thị Thanh N với anh Nguyễn Quốc H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

* Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/05/1999 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi đảm bảo khả năng lao động) và Nguyễn Quốc P, sinh ngày 01/01/2010. Cháu P hiện đang sinh sống cùng Chị N và có nguyện vọng muốn ở với mẹ để thuận tiện cho học tập, sinh hoạt, Chị N có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Quốc P. Anh H không có quan điểm về nuôi con chung nên HĐXX thấy giao cháu Nguyễn Quốc P cho Chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của Chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

*Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

* Về án phí: Chị Tạ Thị Thanh N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147, điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 56, Điều 81,Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình.

- Căn cứ nghị quyết số 326/2016/NQ /UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Xử:

1. Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tạ Thị Thanh N và anh Nguyễn Quốc H.

2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/05/1999 (đã trưởng thành đủ 18 tuổi đảm bảo khả năng lao động) và Nguyễn Quốc P, sinh ngày 01/01/2010.

Sau khi ly hôn, Chị N được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quốc P, tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con đối với anh H cho đến khi cháu P trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

3. Về tài sản chung và công nợ: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Tạ Thị Thanh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0065378 ngày 11/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên. Nay chuyển thành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ